Trở lại

Xét Nghiệm Sinh Hóa Máu Và Ý Nghĩa Các Chỉ Số Xét Nghiệm

Xét nghiệm sinh hóa máu là một loại xét nghiệm phổ biến thường được các bác sĩ chỉ định thực hiện trong quá trình chẩn đoán bệnh và theo dõi điều trị bệnh cho các bệnh nhân. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa hiểu rõ bản chất của xét nghiệm sinh hóa máu là gì? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này.

Xét Nghiệm Sinh Hóa Máu Là Gì?

Xét nghiệm sinh hóa máu là loại xét nghiệm nhằm xác định nồng độ và hoạt độ các chất trong thành phần máu. Hoạt động của mỗi cơ quan trong cơ thể sẽ ảnh hưởng tới một hay một số chỉ số sinh hóa đặc trưng. Do vậy, việc xác định nồng độ và so sánh các các chỉ số sinh hóa trong thành phần máu có thể giúp bác sĩ chẩn đoán được nhiều bệnh như: bệnh về gan như men gan cao, viêm gan, bệnh đái tháo đường, xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim,…

Ý Nghĩa Của Các Chỉ Số Xét Nghiệm Sinh Hóa Máu

Việc xác định các chỉ số sinh hóa máu rất quan trọng trong việc chẩn đoán tình trạng sức khỏe của các cơ quan trong cơ thể. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết được ý nghĩa của các chỉ số sinh hóa nói lên điều gì. Dưới đây là ý nghĩa của các chỉ số sinh hóa máu thường gặp.

1. Nồng độ glucose trong máu (Nồng độ đường huyết)

Glucose là nguồn nhiên liệu chính để các tế bào tạo ra năng lượng và tổng hợp nên glycogen, các acid amin và một số chất béo trong cơ thể.

Nồng độ glucose trong máu hay còn gọi là nồng độ lượng đường huyết được điều hòa bởi gan và được duy trì khá ổn định. Khi có dấu hiệu bất thường của nồng độ đường huyết có thể do rối loạn điều hòa hoặc là dấu hiệu của một loại bệnh lý nào đó.

  • Nồng độ đường huyết thấp sẽ gây rối loạn hệ thần kinh trung ương, trường hợp nặng có thể dẫn tới nhược cơ, thiểu năng, hôn mê.
  • Nồng độ đường huyết cao có thể dấu hiệu của bệnh đái tháo đường.

Chỉ số glucose trong máu thường được kết hợp với xét nghiệm HbA1C để chẩn đoán và theo dõi điều trị của bệnh nhân đái tháo đường, hạ huyết áp. Bình thường nồng độ glucose trong máu khoảng 3.9 – 6.4 mmol/l.

Xét nghiệm sinh hóa máu là loại xét nghiệm nhằm xác định
nồng độ và hoạt độ các chất trong thành phần máu

2. Ure máu

Ure máu là một chỉ số quan trọng trong xét nghiệm sinh hóa máu. Ure là sản phẩm thoái hóa chính của các protein trong cơ thể. Ure sẽ được lọc ở cầu thận để đào thải ra ngoài cơ thể qua đường nước tiểu. Do đó, các chỉ số về ure máu sẽ là cơ sở để đánh giá chức năng thận và các bệnh lý về thận. Đồng thời, nó cũng là cơ sở để đánh giá định mức cung cấp protein trong chế độ ăn.

  • Giá trị bình thường của ure máu trong cơ thể là: 2.5 – 7.5 mmol/l.
  • Ure máu thường tăng trong các trường hợp bệnh nhân mắc các bệnh lý về thận như viêm cầu thận, suy thận, sỏi thận, viêm ống thận, sỏi niệu quản, mất nước do sốt cao, tiêu chảy, suy tim sung huyết, …
  • Ure máu giảm thường do chế độ ăn ít protein, hội chứng thận hư, truyền nhiều dịch, phụ nữ mang thai, suy giảm chức năng gan dẫn tới giảm tổng hợp ure.

3. Creatinin huyết thanh

Creatinin huyết thanh là sản phẩm của quá trình thoái hóa creatinin phosphat ở cơ và các creatinin này sẽ được lọc hoàn toàn ở thận. Giá trị creatinin huyết thanh của người bình thường nằm trong khoảng 62 -120 mmol/l đối với nam và 53 – 100 mmol/l đối với nữ.

Creatinin huyết thanh thường tăng trong các trường hợp bệnh lý suy thận, suy tim, tăng huyết áp, gout, cường giáp, …

Creatinin huyết thanh thường giảm trong các trường hợp phụ nữ mang thai, người bị teo cơ, liệt, sử dụng thuốc chống động kinh,…

Giá trị creatinin huyết thanh của người bình thường
nằm trong khoảng 62 -120 mmol/l​​​​đối với nam và 53 – 100 mmol/l đối với nữ.

4. AST (SGOT), ALT (SGPT), GGT

ATS, ALT, GGT là các chỉ số dùng để đánh giá và chẩn đoán các bệnh lý về gan như viêm gan cấp và mãn tính, tổn thương nhu mô gan (viêm gan do siêu vi trùng, tổn thương gan do uống nhiều bia rượu,…). Ngoài ra, các chỉ số này cũng được sử dụng trong sàng lọc và chẩn đoán các bệnh lý về cơ tim.

Giá trị bình thường của cả 3 chỉ số này là dưới 35 U/L đối với nữ và dưới 50 U/L đối với nam.

5. ALP

Chỉ số ALP còn được gọi là chỉ số Phosphatase kiềm. ALP hiện diện chủ yếu ở gan và xương. Chỉ số ALP tăng cao trong các trường hợp bệnh lý liên quan tới gan mật và xương như còi xương, rối loạn chuyển hóa ở xương, tăng ống mật, ung thư tiền liệt tuyến, …

Chỉ số ALP bình thường < 120 U/L.

6. Albumin

Albumin là một loại protein được tổng hợp ở gan, chúng chiếm khoảng 60% tổng lượng protein toàn phần trong huyết thanh. Albumin có chức năng tạo áp lực thẩm thấu, vận chuyển các chất chuyển hóa, các acid béo tự do, hormone, thuốc,… Ngoài ra, chúng còn giữ vai trò cung cấp acid amin cho tổng hợp protein ở mô.

Chỉ số albumin giữ vai trò trong việc đánh giá chức năng của gan. Hàm lượng albumin của người bình thường nằm trong khoảng 35 – 50 g/L.

Chỉ số albumin giữ vai trò trong việc đánh giá chức năng của gan

7. Bilirubin

Bilirubin được chia làm 3 chỉ số đặc trưng là bilirubin toàn phần, bilirubin gián tiếp và bilirubin trực tiếp. Chỉ số bilirubin thường được dùng để chẩn đoán các bệnh vàng da do tan huyết, tắc mật, viêm gan.

Chỉ số bilirubin toàn phần bình thường < 21 umol/L.

8. Chỉ số xét nghiệm mỡ máu

Chỉ số mỡ máu bao gồm 4 chỉ số cholesterol toàn phần, lipid máu HDL-C, LDL-C, Triglycerid.

  • Cholesterol toàn phần

Chỉ số cholesterol được dùng để chẩn đoán và theo dõi trong các trường hợp rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, đánh giá chức năng gan, người béo phì hoặc được chỉ định khám sức khỏe định kỳ ở người trên 40 tuổi.

Nồng độ cholesterol của người bình thường vào khoảng 3.9 – 5.2 mmol/l.

Chỉ số cholesterol máu thường tăng trong các trường hợp rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, vàng da, suy giáp, tắc mật, phụ nữ mang thai, …

  • Chỉ số xét nghiệm Lipid máu HDL-C (HDL cholesterol)

Chỉ số HDL-C giúp đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu. Chỉ số này có vai trò trong vận chuyển cholesterol lắng đọng ở thành mạch máu quay trở về gan, giúp ngăn ngừa tạo mảng xơ vữa trong thành mạch máu nên nó còn được gọi là cholesterol tốt.

Nồng độ HDL-C bình thường thường trên 0.9 mmol/L. Nồng độ HDL-C thường giảm trong các trường hợp xơ vữa động mạch, béo phì, hút thuốc lá, lười vận động, …

  • LDL-C (LDL cholesterol)

Chỉ số LDL-C là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, bệnh mạch vành,

LDL-C vận chuyển cholesterol tới mạch máu và là tác nhân chính gây ra những mảng xơ vữa động mạch nên chúng còn được gọi là cholesterol xấu.

Nồng độ LDL-C càng cao thì nguy cơ xơ vữa động mạch càng cao. Chỉ số LDL-C bình thường là từ 3.4 mmol/L trở xuống.

Chỉ số LDL-C thường tăng trong các trường hợp béo phì, xơ vữa động mạch, rối loạn lipid máu. Chỉ số LDL-C thường giảm trong các trường hợp suy kiệt, xơ gan, kém hấp thu.

  • Triglyceride

Cũng như các chỉ số ở trên, chỉ số triglycerid thường được chỉ định xét nghiệm trong các trường hợp rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, béo phì và lười vận động.

Hàm lượng triglycerid của người bình thường nằm trong khoảng 0.46 – 1.88 mmol/l. Triglycerid thường giảm trong các trường hợp suy kiệt, cường giáp, kém hấp thu, sau hoạt động thể lực mạnh. Chỉ số triglycerid tăng trong các trường hợp béo phì, xơ gan, suy giáp, xơ vữa động mạch, rối loạn lipid máu, hội chứng thận hư, đái tháo đường.

9. Xét nghiệm ion đồ

Xét nghiệm này thường để kiểm tra chỉ số của các ion Na+, K+, Cl-, Ca2+

  • Na+

Đây là loại cation chính của dịch ngoại bào, có vai trò giữ nước. Khi thừa Na+ thì nước sẽ được tái hấp thu nhiều ở thận. Giá trị bình thường của nồng độ Na+ trong máu là 135 – 145 mmol/l.

Nồng độ Na+ trong máu giảm trong các trường hợp ứ dịch do suy thận, suy tim, xơ gan hoặc mất natri do nôn ói, xuất huyết, tiêu chảy, bỏng, .. Nồng độ Na+ trong máu thường tăng trong các trường hợp cường aldosteron, dùng thuốc chứa thành phần  corticoid, mất nước,…

  • K+

Ion K+ là thành phần chất điện giải của dịch nội bào. Nồng độ K+ bình thường trong máu khoảng 3.5 – 5.0 mmol/l.

Nồng độ ion K+ trong máu thường giảm khi bị tiêu chảy, nôn mửa,.. Nồng độ này trong máu tăng trong trường hợp suy thận, dùng thuốc ức chế men chuyển hóa, thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali,…

  • Cl-

Ion cl- là thành phần chính của dịch ngoại bào. Anion Cl- kết hợp cùng với ion HCO3- giữ vai trò duy trì cân bằng kiềm-toan trong cơ thể. Ngoài ra, ion Cl- còn giữ một số chức năng khác như duy trì áp lực thẩm thấu và cân bằng nước trong cơ thể, hoạt động như một thành phần của hệ đệm, duy trì tình trạng trung hòa về điện tích và hỗ trợ quá trình tiêu hóa. Giá trị nồng độ ion Cl- bình thường là 98 – 106 mmol/l.
Nồng độ ion Cl- thường tăng trong các trường hợp ăn mặn, suy thận, hôn mê, toan chuyển hóa, shock phản vệ,…. và nồng độ này thường giảm khi nôn kéo dài (hẹp môn vị), tiêu chảy, mất nước cấp gây nhiễm kiềm chuyển hóa hoặc ăn nhạt,….

  • Ca++

Ion ca++ là loại ion kim loại có rất nhiều trong cơ thể. Tuy nhiên, chỉ có 0.5% tổng lượng ion ca++ được trao đổi. Ca++ giữ vai trò quan trọng trong các chức năng của tim, co cơ, dẫn truyền các xung thần kinh và quá trình cầm của cơ thể. Nồng độ ca++ thường giảm khi nhiễm kiềm và tăng khi nhiễm toan. Giá trị chỉ số Ca++ bình thường khoảng 4.2 – 5.2 mEq/l (2.1 – 2.6 mmol/l). Nồng độ cation Ca++ thường tăng khi người bệnh nhiễm độc giáp, cường cận giáp, thừa vitamin D, .. Nồng độ này thường giảm khi thiếu vitamin D, nhược cận giáp,…

10. Xét nghiệm Acid Uric

Nồng độ acid uric là cơ sở để chẩn đoán và theo dõi điều trị một số bệnh lý như gout, bệnh thận, …Chỉ số acid uric ở người bình thường là 180 – 420 mmol/l đối với nam và 180 – 360 mmol/l đối với nữ.