Đang bị cúm có tiêm vắc xin cúm được không?
Vì sao nên tiêm vắc xin phòng cúm?
Bệnh cúm là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do virus cúm gây ra, lây lan nhanh qua đường hô hấp, tiếp xúc giọt bắn hoặc bề mặt nhiễm virus. Triệu chứng điển hình bao gồm sốt cao đột ngột (38-40°C), ho khan, đau họng, sổ mũi, đau cơ khớp, mệt mỏi toàn thân, có thể kèm đau đầu và chảy nước mũi. Bệnh kéo dài 3-7 ngày ở người khỏe mạnh nhưng dễ biến chứng viêm phổi, viêm não ở trẻ em, người cao tuổi hoặc bệnh nền.

Theo Bộ Y tế Việt Nam, bệnh cúm xuất hiện quanh năm nhưng tăng cao vào mùa đông xuân (tháng 11-3), nay lan cả mùa hè-thu do biến đổi khí hậu. Năm 2024 ghi nhận 289.876 ca mắc cúm mùa, 8 tử vong (giảm 17,9% so với 2023), chủ yếu cúm A(H1N1), A(H3N2), cúm B. Đến cuối năm 2025, Việt Nam ghi nhận hơn 132.000 ca bệnh với trẻ em và người cao tuổi chiếm tỷ lệ cao.
Tiêm vắc xin là biện pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả ngay cả khi bạn đang khỏe mạnh hoặc vừa hồi phục cảm cúm nhẹ. Vắc xin kích hoạt hệ miễn dịch sản sinh kháng thể chống virus cúm lưu hành, bảo vệ sức khỏe, giảm biến chứng như viêm phổi và lây lan cho người thân.
Đặc biệt, với nhóm nguy cơ cao (trẻ em, người cao tuổi, bệnh mạn tính), tiêm chủng giúp bệnh nhẹ hơn nếu lỡ nhiễm. Đối với trẻ nhỏ và bà bầu, vắc xin cúm không chỉ giảm nguy cơ mắc bệnh mà còn giảm khả năng trẻ bị dị tật bẩm sinh nếu nhiễm trong thai kỳ.
Đang bị cúm có tiêm vắc xin cúm được không?
Nếu chỉ cảm cúm nhẹ (sổ mũi, hắt hơi, đau họng nhẹ, không sốt cao trên 38°C và sinh hoạt bình thường), bạn vẫn có thể tiêm phòng vì hệ miễn dịch đủ khả năng tạo kháng thể mà không tăng nguy cơ biến chứng. Tuy nhiên, nếu đang sốt cao (trên 38°C), mệt mỏi nhiều, ho nặng hoặc cần nghỉ ngơi hoàn toàn, bạn nên hoãn tiêm ít nhất 24-48 giờ sau khi hết sốt mà không dùng thuốc hạ sốt. Điều này giúp tránh nhầm lẫn giữa triệu chứng bệnh và phản ứng sau tiêm, đồng thời đảm bảo vắc xin phát huy hiệu quả tối ưu.

Vắc xin cúm (thường là loại bất hoạt hoặc sống giảm độc lực) chứa kháng nguyên từ các chủng virus cúm lưu hành, kích thích hệ miễn dịch sản sinh kháng thể đặc hiệu. Sau tiêm khoảng 2 tuần, cơ thể tạo ra tế bào lympho có “trí nhớ miễn dịch”, giúp nhận diện và trung hòa virus nếu tiếp xúc thực tế, giảm nguy cơ nhiễm bệnh và hạn chế biến chứng như viêm phổi. Vắc xin thường có hiệu lực kéo dài 6-12 tháng nên bạn cần tiêm nhắc hàng năm do virus biến đổi.
Tiêm phòng cúm có bị cúm không?
Tiêm vắc xin cúm không khiến bạn bị cúm. Hầu hết vắc xin cúm hiện nay là loại bất hoạt (chứa virus đã chết) hoặc sống giảm độc lực, không thể nhân lên gây bệnh trong cơ thể. Các triệu chứng nhẹ sau tiêm như đau cơ, sốt nhẹ chỉ là phản ứng miễn dịch bình thường, không phải cúm thật sự.
Dù hiệu quả cao, nhưng vắc xin vẫn không thể bảo vệ người tiêm hoàn toàn khỏi cúm vì những lý do sau:
- Tiêm chưa đủ thời gian: Kháng thể hình thành sau 2 tuần, nên nếu tiếp xúc virus sớm hơn, vẫn có thể nhiễm.
- Chủng virus không khớp: Virus cúm đột biến nhanh, vắc xin chỉ nhắm 3-4 chủng dự đoán hàng năm.
- Hệ miễn dịch yếu: Người lớn tuổi, bệnh nền hoặc đáp ứng kém vẫn có nguy cơ.
- Nhầm với bệnh khác: Cảm lạnh thông thường hay dị ứng thường bị nhầm là cúm.
Khi nào nên tiêm phòng cúm?
Bạn có thể tiêm phòng cúm vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng thời điểm tốt nhất là cuối tháng 9 đến cuối tháng 10, trước khi mùa cúm bùng phát. Miễn dịch hình thành sau 2 tuần tiêm, nên tiêm sớm giúp bảo vệ kịp thời. Dù vậy, nếu bạn bị cúm sau tiêm, bệnh thường nhẹ hơn và ít biến chứng như viêm phổi.

Đối tượng và lịch tiêm cụ thể:
- Mọi người từ 6 tháng tuổi trở lên: Tiêm 1 mũi/năm, ưu tiên nhóm nguy cơ cao như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, bệnh mãn tính (đái tháo đường, tim mạch, suy giảm miễn dịch).
- Trẻ 6 tháng – dưới 9 tuổi lần đầu: 2 mũi cách nhau 4 tuần, sau đó nhắc 1 mũi/năm.
- Người cao tuổi hoặc yếu miễn dịch: Chọn vắc xin liều cao vào tháng 10-11 để tăng kháng thể.
Thời điểm không nên tiêm phòng cúm
Đối với vắc xin cúm bất hoại (IIV), bạn không nên tiêm trong trường hợp:
- Dị ứng nghiêm trọng (sốc phản vệ) với thành phần vắc xin trước đó, như gelatin, kháng sinh hoặc protein trứng (trừ trường hợp dị ứng nhẹ).
- Hội chứng Guillain-Barré (GBS) trong vòng 6 tuần sau liều vắc xin cúm trước.
Đối với vắc xin sống giảm độc lực (LAIV, dạng xịt mũi), chống chỉ định đối với:
- Người suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai.
- Trẻ 2-4 tuổi hen suyễn, dùng aspirin, rò rỉ dịch não tủy hoặc cấy ốc tai.
Những trường hợp nên tạm hoãn tiêm vắc xin cúm:
- Bệnh cấp tính như sốt cao (trên 38.5°C), nhiễm trùng nặng hoặc đang điều trị kháng sinh. Bạn nên hoãn đến khi hồi phục hoàn toàn, thường 24-48 giờ sau hết sốt không dùng thuốc. Đây chính là lý do đang bị cúm nặng thì không nên tiêm ngay.
- Trẻ dưới 6 tháng tuổi: Chưa đủ tuổi tiêm.
- Dùng thuốc kháng virus cúm trong 48 giờ qua có thể giảm hiệu quả vắc xin sống.
Lưu ý khi tiêm phòng cúm
Lưu ý trước khi tiêm phòng cúm:
- Kiểm tra sức khỏe: Không tiêm nếu đang sốt trên 38°C, bệnh nhiễm trùng cấp tính nặng hoặc mệt mỏi nghiêm trọng. Trong trường hợp cảm cúm nhẹ (sổ mũi, không sốt) bạn vẫn có thể tiêm được.
- Khai báo tiền sử: Báo dị ứng (trứng, gelatin, kháng sinh), từng bị bệnh Guillain-Barré hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch. Phụ nữ mang thai nên tiêm nhưng chọn loại bất hoạt.
Lưu ý trong khi tiêm phòng cúm:
- Chọn cơ sở uy tín: Đảm bảo vắc xin bảo quản đúng (2-8°C), kiểm tra hạn sử dụng và loại phù hợp (bất hoạt cho đa số, xịt mũi cho người khỏe 2-49 tuổi).
- Theo dõi ngay: Ở lại 15-30 phút sau tiêm để quan sát sốc phản vệ. Thông báo nếu đau tại chỗ tiêm.
- Kết hợp sàng lọc: Bác sĩ sẽ đánh giá đang bị cúm có tiêm vắc xin cúm được không dựa trên triệu chứng cụ thể.
Lưu ý sau khi tiêm phòng cúm:
- Theo dõi phản ứng: Đau, sưng chỗ tiêm (1-2 ngày), sốt nhẹ, mệt mỏi (24-48 giờ) là bình thường; bạn có thể dùng paracetamol nếu cần. Gọi cấp cứu nếu khó thở, nổi mề đay toàn thân.
- Chế độ sinh hoạt: Nghỉ ngơi, ăn uống đủ chất (tránh đồ chiên rán, rượu bia ít nhất 1 tuần), uống nhiều nước. Bạn không nên tắm nước lạnh ngay, chú ý giữ ấm cho cơ thể.
* Thông tin y khoa trong bài viết chỉ mang tính tham khảo và không thay thế cho chẩn đoán, tư vấn, điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Mọi quyết định áp dụng thông tin y khoa trong bài viết cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá dựa trên nhu cầu và tình trạng sức khỏe cụ thể trước khi thực hiện.