Tỷ lệ nhiễm HIV qua đường miệng và cách phòng tránh hiệu quả
HIV có lây qua đường miệng không? Cơ chế lây truyền qua đường miệng
HIV (Human Immunodeficiency virus) là virus lây qua đường tình dục, đường máu, từ mẹ sang con, khiến hệ miễn dịch suy yếu dẫn đến dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và một số loại ung thư liên quan. Khả năng virus HIV lây truyền qua đường miệng vẫn có, nhưng thường rất hiếm gặp. Tình trạng này xảy ra khi dịch tiết chứa virus như tinh dịch, dịch âm đạo hoặc máu tiếp xúc với niêm mạc miệng.

Tuy nhiên, niêm mạc miệng có cấu trúc dày, cũng như các enzyme, acid có trong nước bọt có thể ức chế virus, từ đó làm giảm khả năng xâm nhập. Thế nhưng, nguy cơ này có thể tăng lên ở người có tổn thương ở miệng như loét, viêm, các bệnh nhiễm trùng hoặc chảy máu, tạo điều kiện cho virus xâm nhập.
Xem thêm: HIV lây qua đường nào?
Tỷ lệ nhiễm HIV qua đường miệng bao nhiêu?
Theo CDC Hoa Kỳ và PubMed Central, tỷ lệ nhiễm HIV qua miệng rất thấp nhưng không phải là bằng 0. Nguy cơ lây HIV qua mỗi lần quan hệ tình dục bằng miệng (oral sex) ước tính khoảng 0 đến 0,04%, nghĩa là có thể xảy ra 0 đến 4 trường hợp lây nhiễm trên 10.000 lần tiếp xúc không được bảo vệ.
Một số nghiên cứu còn cho thấy khoảng 7-8% trường hợp nhiễm HIV liên quan đến quan hệ miệng. Tuy nhiên, tình trạng này thường rơi vào những người có tổn thương niêm mạc miệng, bị vết loét, chảy máu, khiến virus dễ dàng xâm nhập. Hơn nữa, việc người mang virus được điều trị bằng thuốc kháng virus làm giảm tải lượng virus xuống mức không phát hiện được cũng giúp giảm nguy cơ lây truyền.
Nguy cơ nhiễm HIV khi quan hệ bằng miệng
Nguy cơ nhiễm HIV qua quan hệ đường miệng là rất thấp nhưng không phải không có. Một số yếu tố làm tăng rủi ro nhiễm HIV đường miệng gồm:
- Có vết xước, loét hoặc chảy máu trong miệng, chảy máu chân răng, tạo cơ hội cho virus xâm nhập.
- Người nhiễm HIV có tải lượng vi-rút cao mà không điều trị hoặc chưa kiểm soát được virus.
- Tiếp xúc trực tiếp với tinh dịch, dịch âm đạo hoặc máu chứa virus, đặc biệt khi có xuất tinh trong miệng.
- Hành vi quan hệ bằng miệng thô bạo có thể gây tổn thương niêm mạc miệng.
- Mắc đồng thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác như lậu, giang mai, herpes làm tăng khả năng lây HIV.
- Viêm nhiễm hay kích ứng niêm mạc miệng cũng có thể làm tăng tỷ lệ xâm nhập của virus.
Xem thêm: Quan hệ bằng miệng có bị HIV không?

Biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường miệng hiệu quả
Để phòng tránh lây nhiễm HIV khi quan hệ bằng miệng, việc áp dụng các biện pháp an toàn là rất quan trọng. Điều này giúp giảm nguy cơ lây truyền dù nguy cơ vốn đã rất thấp.
- Sử dụng bao cao su hoặc màng chắn miệng để hạn chế tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết chứa virus.
- Tránh quan hệ hoặc tiếp xúc qua đường miệng khi có vết thương hở, vết loét hoặc chảy máu trong miệng để không tạo điều kiện cho virus xâm nhập.
- Hạn chế cho xuất tinh vào miệng để giảm tiếp xúc với tinh dịch chứa HIV.
- Không dùng chỉ nha khoa hay đánh răng ngay trước khi quan hệ để tránh tổn thương vùng niêm mạc.
- Sử dụng thuốc phòng ngừa trước phơi nhiễm (PrEP) nếu thuộc nhóm có nguy cơ cao.
- Nếu nghi ngờ phơi nhiễm HIV, có thể dùng thuốc dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) trong vòng 72 giờ để ngăn ngừa lây nhiễm.
- Người nhiễm HIV nên tuân thủ điều trị bằng thuốc kháng virus để duy trì tải lượng vi-rút không phát hiện, giảm nguy cơ lây cho bạn tình.
Xem thêm: Quan hệ với người nhiễm HIV có bị lây không?
Khi nào cần xét nghiệm HIV sau quan hệ tình dục bằng miệng?
Sau khi quan hệ bằng miệng và nghi ngờ có nguy cơ lây nhiễm HIV, thời điểm thích hợp để làm xét nghiệm là từ 2 tuần đến 3 tháng sau khi quan hệ. Xét nghiệm sớm sau 2 tuần có thể phát hiện HIV. Tuy nhiên, để có kết quả chính xác nhất, mọi người nên tái xét nghiệm sau 3 tháng bởi vì virus có thể chưa được cơ thể phát hiện ở giai đoạn đầu.
Ngoài ra, mọi người nên xét nghiệm nếu:
- Có quan hệ tình dục không an toàn, không sử dụng biện pháp bảo vệ.
- Bạn hoặc bạn tình có nguy cơ hoặc đã biết nhiễm HIV.
- Tiếp xúc với dịch âm đạo, tinh dịch, máu của người nghi nhiễm bệnh.
- Xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ nhiễm HIV như nổi hạch bạch huyết, mệt mỏi, sốt, sụt cân, đau họng, v.v.
Xem thêm
https://www.hpsc.ie/a-z/emi/tables/EMITable9.pdf
https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC1117537/