HPV là virus gây u nhú ở người, có thể lây qua tiếp xúc da – niêm mạc, đặc biệt khi quan hệ tình dục. Phần lớn trường hợp nhiễm HPV không có triệu chứng và có thể tự khỏi, nhưng một số type HPV nguy cơ cao có thể liên quan đến ung thư cổ tử cung và các ung thư khác.

HPV là gì?

HPV là virus gây u nhú ở người, có tên khoa học là Human Papillomavirus. Đây là một nhóm virus rất phổ biến, có thể ảnh hưởng đến da, vùng sinh dục, hậu môn, miệng và hầu họng.

HPV có nhiều loại (type) khác nhau. Một số loại HPV có thể gây mụn cóc thông thường, mụn cóc sinh dục hoặc sùi mào gà. Một số loại HPV khác được xếp vào nhóm nguy cơ cao vì có thể liên quan đến ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, ung thư dương vật, ung thư âm hộ, ung thư âm đạo hoặc ung thư vùng hầu họng nếu tình trạng nhiễm kéo dài.

Vì HPV có thể âm thầm tồn tại trong cơ thể, người đã quan hệ tình dục vẫn nên chủ động tầm soát, tiêm vaccine HPV và đi khám khi có dấu hiệu bất thường.

Xem thêm: STD là gì?

Virus HPV
Hình ảnh virus HPV

Các chủng vi khuẩn HPV phổ biến

Về mặt nguy cơ sức khỏe, các type HPV thường được chia thành hai nhóm chính: HPV nguy cơ thấp và HPV nguy cơ cao.

HPV nguy cơ thấp

HPV nguy cơ thấp thường liên quan đến mụn cóc sinh dục hoặc sùi mào gà. Hai type thường được nhắc đến là HPV 6 và HPV 11.

Các type này thường không phải nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, mụn cóc HPV hoặc sùi mào gà vẫn có thể gây khó chịu, ảnh hưởng tâm lý, dễ tái phát và cần được thăm khám để điều trị đúng cách.

Xem thêm: Bệnh Chlamydia

HPV nguy cơ cao

HPV nguy cơ cao là nhóm có thể gây biến đổi tế bào nếu tình trạng nhiễm kéo dài. Các type HPV nguy cơ cao thường được nhắc đến gồm HPV 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58.

Trong đó, HPV 16 và HPV 18 là hai type liên quan nhiều đến ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, nhiễm HPV nguy cơ cao không có nghĩa là chắc chắn bị ung thư. Nguy cơ còn phụ thuộc vào type HPV, thời gian nhiễm kéo dài, khả năng miễn dịch, kết quả tầm soát cổ tử cung và các yếu tố nguy cơ khác.

Bảng tóm tắt các type HPV

Nhóm HPVType thường gặpCó thể liên quan đến
HPV nguy cơ thấp6, 11Mụn cóc sinh dục, sùi mào gà
HPV nguy cơ cao16, 18Ung thư cổ tử cung và một số ung thư khác
HPV nguy cơ cao khác31, 33, 45, 52, 58Biến đổi tế bào cổ tử cung, nguy cơ ung thư nếu nhiễm kéo dài

Xem thêm: Bệnh hoa liễu

Mụn cóc HPV là gì?

Mụn cóc HPV là tổn thương do một số type HPV gây ra. Khi mụn cóc xuất hiện ở vùng sinh dục, tình trạng này thường được gọi là mụn cóc sinh dục hoặc sùi mào gà. Một số tổn thương có thể mọc riêng lẻ, trong khi một số khác mọc thành cụm giống súp lơ.

Vị trí thường gặp gồm:

  • Âm hộ, âm đạo, cổ tử cung.
  • Dương vật, bìu, vùng bẹn.
  • Hậu môn.
  • Vùng quanh miệng hoặc hầu họng.

Mụn cóc HPV có thể không đau, nhưng vẫn gây ngứa, vướng, khó chịu hoặc ảnh hưởng tâm lý. Người bệnh không nên tự cạy, nặn, chấm thuốc hoặc đốt tại nhà vì có thể gây tổn thương lan rộng, nhiễm trùng hoặc để lại sẹo.

Xem thêm: Mụn cóc HPV

Virus HPV có ở đâu và lây qua đường nào?

HPV có thể tồn tại ở da và niêm mạc. Với HPV sinh dục, virus thường liên quan đến vùng sinh dục, hậu môn, cổ tử cung, miệng hoặc hầu họng. Virus HPV có thể ảnh hưởng đến nhiều vùng khác nhau tùy type virus và đường tiếp xúc, chẳng hạn:

  • Da tay, da chân hoặc các vùng da khác.
  • Vùng sinh dục ngoài.
  • Âm đạo, âm hộ, cổ tử cung.
  • Dương vật, bìu, vùng bẹn.
  • Hậu môn.
  • Miệng và hầu họng.

HPV sinh dục lây chủ yếu qua tiếp xúc da – niêm mạc khi quan hệ tình dục. Các đường lây thường gặp gồm:

  • Quan hệ tình dục qua đường âm đạo.
  • Quan hệ tình dục qua đường hậu môn.
  • Quan hệ tình dục bằng miệng.
  • Tiếp xúc da kề da ở vùng sinh dục với người đang mang virus.

Một người có thể lây HPV cho người khác dù không có dấu hiệu rõ ràng. Đây là lý do nhiều trường hợp nhiễm virus HPV không biết chính xác mình bị lây từ khi nào hoặc từ ai.

Xem thêm: HPV lây qua đường nào?

Nguyên nhân nhiễm HPV là gì?

Nguyên nhân nhiễm HPV thường liên quan đến việc tiếp xúc trực tiếp với vùng da hoặc niêm mạc có virus. Vì HPV rất phổ biến và nhiều người nhiễm không có triệu chứng, một người có thể bị nhiễm HPV mà không biết mình đã tiếp xúc với virus từ khi nào.

Quan hệ tình dục không an toàn

Quan hệ tình dục không an toàn là yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm virus HPV. Nguy cơ có thể cao hơn nếu:

  • Quan hệ tình dục không dùng bao cao su.
  • Có nhiều bạn tình.
  • Quan hệ với người đang nhiễm HPV nhưng không có triệu chứng.
  • Có tiền sử mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Bắt đầu quan hệ tình dục từ sớm.

Tuy vậy, HPV không phải là dấu hiệu cho thấy một người có đời sống tình dục “không lành mạnh”. Virus này rất phổ biến và có thể lây ngay cả khi chỉ có một bạn tình. Vì vậy, điều quan trọng là hiểu đúng nguy cơ, chủ động phòng ngừa và tầm soát định kỳ.

Tiếp xúc da – niêm mạc với vùng nhiễm HPV

HPV có thể lây qua tiếp xúc trực tiếp với vùng da hoặc niêm mạc có virus. Người nhiễm không nhất thiết phải có mụn cóc, sùi mào gà hoặc tổn thương nhìn thấy được mới có khả năng lây truyền.

Đây là lý do HPV có thể âm thầm lây lan. Một người có thể nhiễm HPV trong thời gian dài nhưng không có dấu hiệu rõ ràng, sau đó chỉ phát hiện khi đi khám phụ khoa, xét nghiệm HPV hoặc tầm soát ung thư cổ tử cung.

Hệ miễn dịch suy yếu

Hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát virus HPV. Người có hệ miễn dịch suy yếu có thể khó kiểm soát virus hơn, từ đó làm tăng nguy cơ nhiễm kéo dài hoặc tái phát tổn thương.

Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến miễn dịch gồm bệnh nền, dùng thuốc ức chế miễn dịch, hút thuốc lá, căng thẳng kéo dài, thiếu ngủ hoặc chế độ sinh hoạt không lành mạnh. Tuy nhiên, đây chỉ là yếu tố nguy cơ, không phải ai có miễn dịch yếu cũng sẽ mắc bệnh nghiêm trọng do HPV.

Không tiêm vaccine HPV hoặc chưa tầm soát định kỳ

Không tiêm vaccine HPV không phải nguyên nhân trực tiếp khiến một người nhiễm HPV. Tuy nhiên, vaccine có thể giúp phòng ngừa các type HPV mà vaccine bao phủ, đặc biệt là các type liên quan đến mụn cóc sinh dục và ung thư cổ tử cung.

Bên cạnh đó, không tầm soát định kỳ có thể khiến các bất thường cổ tử cung liên quan đến HPV nguy cơ cao khó được phát hiện sớm. Việc tầm soát giúp bác sĩ theo dõi, đánh giá nguy cơ và can thiệp kịp thời nếu có tổn thương tiền ung thư.

Xem thêm: Giang mai

Dấu hiệu HPV là gì?

Đa số trường hợp nhiễm HPV không có dấu hiệu rõ ràng ở cả nam và nữ. Nhiều người chỉ biết mình nhiễm HPV khi đi xét nghiệm, tầm soát cổ tử cung hoặc khám vì có tổn thương sinh dục.
Khi bệnh dần xuất hiện, các dấu hiệu HPV sẽ dần hiện rõ trên cơ thể. Tùy vào loại virus HPV mà triệu chứng sẽ có những biểu hiện khác nhau:

  • Mụn cóc sinh dục: Có dạng vết sưng nhỏ như súp lơ, không đau, tiết dịch, và gây ngứa hoặc mềm khi chạm vào. Ở phụ nữ, mụn cóc sinh dục chủ yếu xuất hiện ở âm hộ, cũng có thể gặp ở gần hậu môn, trên cổ tử cung, hoặc trong âm đạo. Ở nam giới, mụn cóc sinh dục hình thành trên dương vật, bìu, hoặc xung quanh hậu môn.
  • Mụn cóc lòng bàn chân (mụn cóc Plantar): Mụn cóc có dạng cứng, sần sùi, thường xuất hiện ở gót chân hoặc lòng bàn chân, và gây ngứa ngáy, khó chịu.
  • Mụn cóc thông thường: Mụn cóc có dạng những nốt sần, gồ lên và thường xuất hiện trên bàn tay, ngón tay. Mụn cóc dạng này chỉ gây mất thẩm mỹ, nhưng cũng có lúc gây đau đớn hoặc chảy máu.
  • Mụn cóc phẳng: Mụn cóc này có đầu phẳng, hơi nhô cao, và có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trên cơ thể. Trẻ em thường bị ở mặt, phụ nữ bị ở chân, còn nam giới thì có xu hướng nổi ở vùng râu.

 

Xem thêm: Dấu hiệu nhiễm HPV ở phụ nữ

Mụn cóc Plantar
Dấu hiệu HPV có thể là mụn cóc Plantar, mụn cóc sinh dục, mụn cóc phẳng, hoặc mụn cóc thông thường.

Các biến chứng nguy hiểm của HPV

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, việc tiếp xúc và lây nhiễm lâu dài với các tuýp virus HPV nguy cơ cao có thể gây ung thư ở các bộ phận của cơ thể nơi mà virus HPV xâm nhập vào tế bào. Các bộ phận có thể có khối u là cổ tử cung, hầu họng, hậu môn, dương vật, âm đạo, âm hộ,…

Ung thư âm đạo/âm hộ

Ung thư âm đạo xảy ra do các tế bào ở âm đạo phát triển vượt quá khả năng kiểm soát của cơ thể. Tế bào ung thư có thể xâm lấn và di căn xa tới các cơ quan bộ phận khác nhau của cơ thể (như phổi) và tiếp tục phát triển tại đó. Ung thư âm hộ gồm có 2 loại:

Ung thư xảy ra ở bề mặt bên ngoài của cơ quan sinh dục nữ. Âm hộ là vùng da bao quanh niệu đạo và âm đạo, bao gồm âm vật và môi nhỏ. Các hình thái ung thư âm hộ là khối u hoặc loét âm hộ gây đau hoặc/và ngứa. Ung thư âm hộ có tần suất mắc bệnh thấp hơn so với các loại ung thư phụ khoa khác.

Hai chủng virus HPV 16, 18 là 2 tác nhân chính gây ra ung thư âm hộ (chiếm đến 50 – 65%), ngoài ra là các tuýp virus HPV nguy cơ cao khác.

Ung thư âm đạo/âm hộ
Các hình thái ung thư âm hộ/âm đạo là khối u hoặc loét âm hộ gây đau hoặc/và ngứa.

 

Xem thêm: Các bệnh lây qua đường miệng khi quan hệ

Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là căn bệnh ung thư phổ biến ở nữ. Đây là loại ung thư xảy ra ở tế bào lót cổ tử cung – phần dưới của tử cung (dạ con), nối tử cung với âm đạo.

Cổ tử cung được bao phủ một lớp mô mỏng được tạo thành từ các tế bào ở cổ tử cung. Ung thư bắt đầu khi các tế bào lót ở cổ tử cung phát triển không kiểm soát và lấn át các tế bào thường, tạo thành khối u trong cổ tử cung.

Có đến 99,7% trường hợp ung thư cổ tử cung có sự tồn tại của virus HPV, đặc biệt là 2 chủng virus HPV 16,18; tiếp đó là các chủng HPV 31, HPV 33, và HPV 45.

Xem thêm: Herpes sinh dục

Ung thư dương vật

Không cắt bao quy đầu và phơi nhiễm với virus HPV là yếu tố nguy cơ chính gây nên bệnh ung thư dương vật, một loại ung thư hiếm gặp. Người có tiền sử sùi mào gà, thường là hệ quả của nhiễm virus HPV là khởi nguồn gây ung thư biểu mô tế bào vảy của dương vật, cũng như ung thư cổ tử cung ở phụ nữ.

Virus HPV có thể được phát hiện trong 30 – 50% trong các trường hợp ung thư biểu mô dương vật, và có đến 30-90% nguyên nhân gây nên ung thư dương vật do hai chủng virus HPV 16, 18 gây nên.

hình ảnh dương vật bị sùi mào gà
Ung thư dương vật 30 – 90% do hai chủng virus HPV 16, HPV 18 gây nên.

Xem thêm: Sùi mào gà là gì?

Ung thư hậu môn

Ung thư hậu môn là một trong những bệnh ung thư nghiêm trọng nhất ở nam giới. Đây là các loại ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư tuyến, ung thư hạch, khối u ác tính, hoặc ung thư biểu mô basaloid. Bệnh do 2 chủng virus HPV 16 và 18 gây ra. Người có tiền sử từng có mụn cóc sinh dục thì sẽ có nguy cơ mắc ung thư hậu môn rất cao.

Xem thêm: Dấu hiệu nhiễm HPV ở nam giới

Ung thư vòm họng

Virus HPV, đặc biệt hai tuýp 16 và 18 là tác nhân liên quan đến 70% ca ung thư vòm họng. HPV có thể lây nhiễm vào miệng và cổ họng thông qua quan hệ tình dục và gây ra bệnh ung thư vòm họng (phía sau cổ họng, bao gồm cả lưỡi và amidan). Vaccine HPV có thể bảo vệ cơ thể phòng nhiễm trùng virus HPV qua đường miệng, chặn nguy cơ các tổn thương vùng hầu họng.

Ung thư vòm họng
Virus HPV, đặc biệt hai tuýp 16 và 18, gây ung thư vòm họng (phía sau cổ họng, bao gồm lưỡi và amidan).

Các tổn thương tiền ung thư hoặc loạn sản

Việc nhiễm virus HPV dai dẳng có thể hình thành nên các tổn thương tiền ung thư hoặc loạn sản. Những tổn thương tiền ung thư là các thay đổi khiến tế bào cổ tử cung không còn được bình thường mà có xu hướng tiến triển thành ung thư. Tuy nhiên, các tổn thương này chưa phải là ung thư, và nếu  không được can thiệp thích hợp thì các tổn thương này mới có nguy cơ phát triển thành ung thư.

Xem thêm: Bệnh lậu

Các phương pháp xét nghiệm HPV

Xét nghiệm HPV giúp phát hiện sự hiện diện của virus HPV, đặc biệt là các type nguy cơ cao liên quan đến ung thư cổ tử cung. Đây là công cụ quan trọng trong tầm soát ung thư cổ tử cung ở người có cổ tử cung.

  • Xét nghiệm Pap smear/Thinprep: Xét nghiệm Pap được thực hiện nhằm tìm kiếm sự thay đổi trong các tế bào cổ tử cung, để tìm và phát hiện các bất thường cấu trúc và hình thái như dị sản, loạn sản,… là mầm mống của tế bào ung thư, từ đó giúp phát hiện bệnh sớm.
  • Xét nghiệm DNA của HPV: Xét nghiệm HPV DNA sử dụng hệ thống máy tách chiết DNA tự động và công nghệ hiện đại nhằm phân tích, xác định chính xác sự hiện diện virus HPV bên trong cơ thể người bệnh.
  • Đồng xét nghiệm HPV ADN và Pap/ThinPrep: Cách kết hợp này giúp đánh giá đồng thời hai yếu tố: sự hiện diện của virus HPV nguy cơ cao và tình trạng tế bào cổ tử cung. Phương pháp này không khẳng định 100% một người có mắc ung thư cổ tử cung hay không nhưng có thể giúp bác sĩ đánh giá nguy cơ hiện tại và tương lai chính xác hơn.

Ai nên xét nghiệm HPV?

Bạn có thể cần xét nghiệm HPV nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Đã quan hệ tình dục và đến độ tuổi cần tầm soát cổ tử cung.
  • Có kết quả Pap smear hoặc ThinPrep bất thường.
  • Có triệu chứng hoặc tổn thương nghi ngờ liên quan đến HPV.
  • Có yếu tố nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Được bác sĩ chỉ định xét nghiệm để đánh giá nguy cơ.

HPV thường không gây triệu chứng rõ ràng, vì vậy nhiều người chỉ phát hiện nhiễm virus khi thực hiện xét nghiệm hoặc tầm soát cổ tử cung. Nếu bạn thuộc nhóm cần tầm soát định kỳ, từng có kết quả Pap/ThinPrep bất thường, có quan hệ tình dục không an toàn hoặc đang chuẩn bị tiêm vaccine HPV, bạn nên chủ động kiểm tra sớm.

Gói xét nghiệm HPV tại DIAG hỗ trợ phát hiện nhiều chủng HPV gây bệnh, giúp bạn hiểu rõ nguy cơ hiện tại và có hướng theo dõi phù hợp cùng bác sĩ.

Đặt lịch xét nghiệm HPV ngay!

Xét nghiệm Thinprep
Xét nghiệm Thinprep phết tế bào cổ tử cung được cải tiến hơn so với xét nghiệm Pap Smear.

HPV có tự khỏi không? Có điều trị được không?

HPV có thể tự khỏi hoặc hàm lượng virus xuống dưới ngưỡng phát hiện được ở nhiều người nhờ hoạt động của hệ miễn dịch. Tuy nhiên, người bệnh không thể tự biết chắc virus đã hết chỉ dựa vào việc không có triệu chứng.

Nếu có kết quả HPV dương tính, đặc biệt là HPV nguy cơ cao, bạn nên theo dõi theo hướng dẫn của bác sĩ. Việc tái khám hoặc làm lại xét nghiệm đúng lịch giúp đánh giá virus đã được kiểm soát hay còn tồn tại kéo dài.

Hiện chưa có thuốc đặc hiệu có thể “diệt HPV” trực tiếp cho mọi trường hợp nhiễm. Điều trị thường tập trung vào các vấn đề do HPV gây ra, chẳng hạn:

  • Điều trị mụn cóc sinh dục hoặc sùi mào gà: Nếu HPV gây mụn cóc sinh dục hoặc sùi mào gà, bác sĩ có thể chỉ định thuốc bôi, áp lạnh, đốt điện, laser hoặc cắt bỏ tổn thương tùy vị trí và mức độ. Điều trị giúp loại bỏ mụn cóc nhìn thấy được, giảm khó chịu và hạn chế lan rộng.
  • Theo dõi và xử trí tổn thương tiền ung thư cổ tử cung: HPV nguy cơ cao kéo dài có thể gây biến đổi tế bào cổ tử cung. Bất thường thường được phát hiện qua Pap smear, HPV test hoặc soi cổ tử cung. Nếu tổn thương nhẹ, bác sĩ có thể theo dõi định kỳ; nếu tổn thương mức độ cao, có thể cần áp lạnh, đốt, LEEP hoặc khoét chóp để ngăn tiến triển thành ung thư.
  • Điều trị ung thư liên quan đến HPV nếu bệnh đã tiến triển: Nếu HPV đã gây ung thư, việc điều trị sẽ tùy loại ung thư và giai đoạn bệnh, có thể gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị hoặc phối hợp nhiều phương pháp.
  • Kiểm soát triệu chứng và giảm nguy cơ tái phát: Người bệnh nên tái khám đúng hẹn, tránh quan hệ khi đang có tổn thương, dùng bao cao su đúng cách, điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục nếu có, không hút thuốc và duy trì lối sống lành mạnh để hỗ trợ miễn dịch.

Người bệnh không nên tự mua thuốc bôi, thuốc uống hoặc áp dụng mẹo dân gian để điều trị HPV khi chưa được bác sĩ thăm khám.

Xem thêm: HIV là gì?

Cách phòng ngừa HPV

Không thể phòng ngừa HPV tuyệt đối trong mọi trường hợp, nhưng có nhiều biện pháp giúp giảm đáng kể nguy cơ nhiễm virus và các bệnh liên quan đến HPV.

  • Tiêm vaccine HPV: Tiêm vaccine HPV giúp phòng ngừa các type HPV mà vaccine bao phủ. Vaccine HPV có hiệu quả tốt nhất khi được tiêm trước khi phơi nhiễm virus, tức trước khi bắt đầu quan hệ tình dục. Người đã từng quan hệ tình dục hoặc từng nhiễm HPV nên trao đổi với bác sĩ để hiểu rõ về hiệu quả phòng ngừa của vaccine.
  • Tầm soát cổ tử cung định kỳ: Tầm soát cổ tử cung định kỳ giúp phát hiện sớm bất thường tế bào cổ tử cung và nguy cơ liên quan đến HPV. Ngay cả khi đã tiêm vaccine HPV, người có cổ tử cung vẫn nên tầm soát theo khuyến nghị y khoa, vì vaccine không phòng ngừa tất cả các type HPV có thể liên quan đến ung thư.
  • Quan hệ tình dục an toàn: Quan hệ tình dục an toàn giúp giảm nguy cơ nhiễm HPV và nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Một số biện pháp nên thực hiện gồm:
    • Sử dụng bao cao su đúng cách.
    • Hạn chế số lượng bạn tình.
    • Trao đổi với bạn tình về tiền sử bệnh lây truyền qua đường tình dục.
    • Không quan hệ khi đang có mụn, sùi hoặc tổn thương nghi ngờ cho đến khi được khám.
    • Đi khám khi có triệu chứng bất thường sau quan hệ.
  • Giữ hệ miễn dịch khỏe mạnh: Hệ miễn dịch khỏe mạnh giúp cơ thể kiểm soát virus tốt hơn. Để hỗ trợ miễn dịch, bạn nên:
    • Ngủ đủ giấc.
    • Ăn uống cân bằng.
    • Không hút thuốc.
    • Hạn chế rượu bia.
    • Tập thể dục phù hợp.
    • Kiểm soát căng thẳng.
    • Điều trị và theo dõi bệnh nền nếu có.

Các biện pháp này không thay thế vaccine hoặc tầm soát, nhưng có thể hỗ trợ sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ diễn tiến bất lợi.

Xem thêm: Mụn cơm hoa liễu

Câu hỏi thường gặp về HPV

1. Virus HPV có trong máu không?

HPV không được xem là bệnh lây truyền qua đường máu điển hình. Đường lây chính của HPV sinh dục là tiếp xúc da-niêm mạc khi quan hệ tình dục, bao gồm quan hệ đường âm đạo, hậu môn hoặc miệng.

2. Virus HPV sống được bao lâu ngoài môi trường?

Không nên tập trung vào mốc thời gian cụ thể ngoài môi trường. Trong thực tế, nguy cơ lây HPV chủ yếu đến từ tiếp xúc trực tiếp da-niêm mạc với người nhiễm virus. Các biện pháp phòng ngừa thực tế hơn gồm tiêm vaccine, quan hệ an toàn và đi khám khi có tổn thương nghi ngờ.

3. Đã tiêm vaccine HPV có cần xét nghiệm không?

Có. Vaccine HPV không phòng ngừa tất cả type HPV có thể liên quan đến ung thư. Vì vậy, người có cổ tử cung vẫn nên tầm soát định kỳ theo khuyến nghị hoặc chỉ định của bác sĩ.

4. Nam giới có cần xét nghiệm HPV không?

Hiện nam giới không có xét nghiệm HPV thường quy giống như tầm soát cổ tử cung ở nữ giới. Tuy nhiên, nam giới nên đi khám nếu có mụn cóc, sùi hoặc tổn thương nghi ngờ ở dương vật, bìu, hậu môn, vùng bẹn, miệng hoặc hầu họng.