Phác đồ điều trị viêm phổi ở người lớn
- Nguyên tắc điều trị viêm phổi
- Điều trị sớm nhưng không tự ý dùng thuốc
- Tránh lạm dụng kháng sinh phổ rộng
- Theo dõi đáp ứng sau 48 - 72 giờ
- Chuyển từ tiêm sang uống khi ổn định
- Phác đồ điều trị viêm phổi ở người lớn theo từng nhóm người bệnh
- Người bệnh viêm phổi mức độ nhẹ, điều trị ngoại trú
- Người bệnh lớn tuổi, có bệnh đồng mắc hoặc nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc
- Người bệnh viêm phổi nhập viện, không nằm ICU
- Người bệnh viêm phổi nặng, cần điều trị ICU
- Xử trí khi điều trị không đáp ứng
- Phục hồi sau viêm phổi
- Xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán và điều trị viêm phổi tại DIAG
Nguyên tắc điều trị viêm phổi
Điều trị viêm phổi cần đạt các mục tiêu chính: khỏi bệnh, hạn chế biến chứng, giảm nhập viện hoặc rút ngắn thời gian nằm viện, giảm tử vong, hạn chế kháng kháng sinh và cải thiện chất lượng sống.
Điều trị sớm nhưng không tự ý dùng thuốc
Kháng sinh cần được dùng sớm khi có chỉ định, nhưng không phải tự mua khi ho, sốt hay có đờm. Việc chọn thuốc phải dựa trên mức độ nặng, nguy cơ kháng thuốc, bệnh nền, chức năng gan thận và tiền sử dị ứng. Ở người nhập viện, nên lấy đờm hoặc máu làm xét nghiệm trước khi dùng kháng sinh nếu có thể, sau đó điều chỉnh theo kết quả vi sinh.
Tránh lạm dụng kháng sinh phổ rộng
Không nên dùng kháng sinh phổ rộng khi không cần thiết vì dễ gây tác dụng phụ và tăng kháng thuốc. Thường bác sĩ sẽ bắt đầu bằng phác đồ kinh nghiệm, rồi điều chỉnh khi có kết quả xét nghiệm hoặc khi người bệnh không đáp ứng.
Theo dõi đáp ứng sau 48 – 72 giờ
Sau điều trị, cần đánh giá trong 48 – 72 giờ. Nếu sốt giảm, ho và khó thở cải thiện, SpO2 ổn định thì tiếp tục phác đồ. Nếu không cải thiện hoặc nặng hơn, cần xem xét lại chẩn đoán và đổi điều trị theo hướng dẫn chuyên môn.
Chuyển từ tiêm sang uống khi ổn định
Người bệnh không phải lúc nào cũng cần tiêm đến hết liệu trình. Khi tình trạng cải thiện, có thể chuyển sang thuốc uống để tiếp tục điều trị. Việc thay đổi này phải do bác sĩ quyết định, không tự ý ngưng hoặc đổi thuốc.

Phác đồ điều trị viêm phổi ở người lớn theo từng nhóm người bệnh
Phác đồ điều trị viêm phổi ở người lớn được xây dựng dựa trên mức độ nặng của bệnh, tình trạng lâm sàng và các yếu tố nguy cơ đi kèm, do đó không có một công thức điều trị chung áp dụng cho tất cả người bệnh. Việc lựa chọn thuốc, liều dùng và thời gian điều trị cần được bác sĩ đánh giá trực tiếp và cá thể hóa cho từng trường hợp cụ thể.
Người bệnh viêm phổi mức độ nhẹ, điều trị ngoại trú
Nhóm này thường là người bệnh còn tỉnh táo, không khó thở nhiều, không thiếu oxy, không tụt huyết áp, có thể uống thuốc và có điều kiện theo dõi tại nhà. Theo hướng dẫn, nhóm viêm phổi mắc phải cộng đồng mức độ nhẹ có thể điều trị ngoại trú sau khi được bác sĩ đánh giá.
Với nhóm này, bác sĩ có thể cân nhắc kháng sinh đường uống hướng đến các tác nhân thường gặp như phế cầu, Haemophilus influenzae, Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae hoặc virus hô hấp.
Hướng dẫn của Hội Hô hấp Việt Nam ghi nhận phác đồ ngoại trú có thể dùng amoxicillin đơn thuần hoặc phối hợp chất ức chế beta-lactamase trong một số tình huống. Nếu nghi tác nhân không điển hình có thể chọn macrolid; quinolon hô hấp thường chỉ cân nhắc trong một số trường hợp như dị ứng beta-lactam.
Người bệnh điều trị tại nhà cần tái khám nếu sau 48 – 72 giờ không cải thiện, sốt kéo dài, khó thở tăng, đau ngực nhiều hơn, SpO2 giảm hoặc mệt lả.
Người bệnh lớn tuổi, có bệnh đồng mắc hoặc nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc
Không phải người bệnh ngoại trú nào cũng giống nhau. Người trên 65 tuổi, có bệnh tim, bệnh phổi mạn tính, bệnh gan, bệnh thận, đái tháo đường, nghiện rượu, ung thư, suy giảm miễn dịch, từng dùng kháng sinh trong 3 tháng gần đây hoặc có nguy cơ nhiễm vi khuẩn kháng thuốc thường cần lựa chọn thuốc thận trọng hơn.
Ở nhóm này, bác sĩ có thể cần phối hợp thuốc hoặc chọn nhóm kháng sinh có phổ phù hợp hơn so với người trẻ, ít bệnh nền. Nhóm lớn tuổi, có bệnh đồng mắc hoặc suy giảm miễn dịch có thể cần phối hợp beta-lactam/ức chế beta-lactamase hoặc cephalosporin phổ rộng với macrolid; hoặc dùng quinolon hô hấp đơn trị trong một số tình huống.
Người bệnh không nên tự hiểu đây là “cứ lớn tuổi thì dùng thuốc mạnh hơn”. Việc chọn thuốc còn phụ thuộc triệu chứng, kết quả khám, tiền sử dị ứng, chức năng thận, thuốc đang dùng và nguy cơ tương tác.
Người bệnh viêm phổi nhập viện, không nằm ICU
Nhóm này là người bệnh không đủ an toàn để điều trị tại nhà nhưng chưa đến mức phải điều trị hồi sức tích cực. Họ có thể khó thở hơn, ăn uống kém, có bệnh nền, tuổi cao, tổn thương phổi rộng hơn hoặc cần theo dõi oxy máu và đáp ứng điều trị.
Với người bệnh nhập viện, bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm đờm, cấy máu, xét nghiệm nhanh hoặc PCR để tìm tác nhân, đặc biệt khi bệnh nặng hoặc cần định hướng điều trị kháng sinh.
Theo hướng dẫn của Hội Hô hấp Việt Nam, nhóm nhập viện có thể được điều trị bằng beta-lactam có hoặc không có chất ức chế beta-lactamase, cephalosporin hoặc phối hợp với macrolid/quinolon tùy tình huống; nếu có nguy cơ Pseudomonas aeruginosa, cần chọn thuốc có khả năng bao phủ tác nhân này.
Ở nhóm này, người bệnh thường được theo dõi nhịp thở, SpO2, mạch, huyết áp, nhiệt độ, khả năng ăn uống và đáp ứng sau 48 – 72 giờ. Nếu ổn định hơn, bác sĩ có thể chuyển thuốc tiêm sang thuốc uống và chuẩn bị kế hoạch điều trị tiếp sau xuất viện.
Người bệnh viêm phổi nặng, cần điều trị ICU
Người bệnh viêm phổi nặng cần điều trị tại khoa hồi sức tích cực khi có suy hô hấp cần thở máy, sốc nhiễm khuẩn cần thuốc vận mạch hoặc có nhiều tiêu chuẩn nặng theo ATS như thở nhanh, PaO2/FiO2 thấp, tổn thương nhiều thùy phổi, lú lẫn, ure máu tăng, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, hạ thân nhiệt hoặc hạ huyết áp cần bù dịch tích cực.
Ở nhóm này, điều trị thường cần kháng sinh đường tĩnh mạch, thở oxy hoặc hỗ trợ hô hấp, truyền dịch có kiểm soát, theo dõi huyết áp, lượng nước tiểu, tri giác và xử trí biến chứng.
Hướng dẫn của Hội Hô hấp Việt Nam lưu ý nhóm viêm phổi nặng nằm ICU thường cần beta-lactam phổ rộng phối hợp macrolid hoặc quinolon truyền tĩnh mạch; nếu nghi Pseudomonas, cần phối hợp thuốc có tác dụng chống Pseudomonas.

Xử trí khi điều trị không đáp ứng
Không đáp ứng điều trị có thể xảy ra khi người bệnh vẫn sốt, khó thở tăng, SpO2 giảm, tổn thương phổi tiến triển hoặc xuất hiện tổn thương mới sau khi đã điều trị.
Thất bại điều trị có thể liên quan đến huyết động không ổn định, suy giảm chức năng hô hấp cần thở máy, tổn thương phổi tiến triển hoặc triệu chứng dai dẳng sau giai đoạn điều trị đầu.
Khi đó, bác sĩ sẽ tiến hành đánh giá lại mức độ nặng của bệnh để xác định tình trạng hiện tại có xấu đi hay không, đồng thời kiểm tra việc người bệnh có tuân thủ và sử dụng thuốc đúng theo chỉ định hay không.
Song song với đó, bác sĩ cần xem xét khả năng vi khuẩn kháng thuốc như một nguyên nhân khiến điều trị không hiệu quả. Ngoài ra, cần tìm kiếm các biến chứng có thể xảy ra như tràn dịch màng phổi, áp xe phổi hoặc viêm phổi hoại tử.
Trong nhiều trường hợp, bác sĩ sẽ chỉ định thêm các xét nghiệm vi sinh, PCR, cấy đờm, cấy máu hoặc các phương tiện chẩn đoán hình ảnh để làm rõ nguyên nhân. Cuối cùng, cũng cần loại trừ các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự như lao phổi, ung thư phổi, thuyên tắc phổi, phù phổi hoặc các bệnh tự miễn nhằm tránh bỏ sót chẩn đoán quan trọng.
Người bệnh không nên tự đổi sang kháng sinh khác khi thấy thuốc “không ăn”. Việc thay thuốc cần có cơ sở, nếu không rất dễ làm bệnh khó kiểm soát hơn.

Phục hồi sau viêm phổi
Sau khi điều trị, nhiều người vẫn còn ho, mệt, hụt hơi khi gắng sức hoặc giảm sức bền trong vài tuần. Điều này có thể gặp sau viêm phổi, nhất là ở người lớn tuổi, người có bệnh nền hô hấp hoặc từng bị viêm phổi nặng.
Để phục hồi tốt hơn, người bệnh nên:
- Tăng dần vận động: Diễn giải là nên bắt đầu bằng các hoạt động nhẹ như đi bộ ngắn, sau đó tăng dần cường độ theo khả năng, tránh tập luyện nặng ngay sau khi khỏi bệnh để không làm cơ thể quá tải.
- Ăn đủ chất: Diễn giải là cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng cân bằng, ưu tiên thực phẩm giàu đạm, rau xanh, trái cây và các món dễ tiêu để giúp cơ thể hồi phục mô và tăng sức đề kháng.
- Uống đủ nước: Diễn giải là duy trì lượng nước phù hợp giúp làm loãng đờm, hỗ trợ hô hấp và cải thiện quá trình hồi phục, trừ khi có chỉ định hạn chế dịch từ bác sĩ.
- Ngưng hút thuốc và tránh khói thuốc: Diễn giải là tránh hoàn toàn thuốc lá và môi trường khói thuốc để giảm kích thích đường hô hấp và hạn chế nguy cơ tái phát hoặc kéo dài triệu chứng.
- Tái khám theo hẹn: Diễn giải là cần tuân thủ lịch tái khám, đặc biệt khi bác sĩ yêu cầu chụp kiểm tra lại để đánh giá mức độ hồi phục của phổi và phát hiện sớm biến chứng nếu có.
- Kiểm soát bệnh nền: Diễn giải là nếu có các bệnh mạn tính như COPD, hen, suy tim hoặc đái tháo đường thì cần kiểm soát tốt vì các bệnh này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ hồi phục và nguy cơ tái phát viêm phổi.
- Hỏi về vắc xin phù hợp: Diễn giải là nên tham khảo bác sĩ về các vắc xin như cúm, COVID-19 hoặc phế cầu để giảm nguy cơ nhiễm trùng hô hấp trong tương lai, đặc biệt ở nhóm nguy cơ cao.
Nếu sau điều trị vẫn sốt, khó thở tăng, đau ngực, ho ra máu, sụt cân, mệt nhiều kéo dài hoặc ho không giảm, người bệnh nên đi khám lại để được đánh giá nguyên nhân và xử trí kịp thời.
Xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán và điều trị viêm phổi tại DIAG
Viêm phổi ở người lớn cần được bác sĩ chẩn đoán dựa trên triệu chứng, thăm khám, SpO2, chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm khi cần. Trong quá trình điều trị, xét nghiệm có thể hỗ trợ bác sĩ đánh giá tác nhân gây bệnh, mức độ viêm và lựa chọn thuốc phù hợp.
Tại Trung Tâm Y Khoa DIAG, người bệnh có thể thực hiện các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán bệnh hô hấp theo chỉ định như test nhanh 5 trong 1 (COVID-19, cúm A/B, RSV, Adenovirus), công thức máu (CBC) để đánh giá nhiễm trùng và tình trạng máu, CRP để đo mức độ viêm.
Ngoài ra, có thể làm nuôi cấy – kháng sinh đồ đàm/dịch hô hấp nhằm xác định vi khuẩn và lựa chọn kháng sinh phù hợp trong các trường hợp nhiễm trùng kéo dài, tái phát hoặc điều trị không đáp ứng.
DIAG cung cấp đặt lịch online, nhiều điểm lấy mẫu, dịch vụ lấy mẫu tại nhà, trả kết quả qua SMS/Zalo và tư vấn từ xa, giúp người bệnh thuận tiện kiểm tra tác nhân hô hấp hoặc theo dõi chỉ số viêm theo chỉ định bác sĩ.
Liên hệ DIAG qua:
- Website: https://diag.vn/
- Hotline: 1900 1717
* Thông tin y khoa trong bài viết chỉ mang tính tham khảo và không thay thế cho chẩn đoán, tư vấn, điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Mọi quyết định áp dụng thông tin y khoa trong bài viết cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá dựa trên nhu cầu và tình trạng sức khỏe cụ thể trước khi thực hiện.

