Lao phổi là dạng bệnh lao phổ biến nhất, do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn lao không phải lúc nào cũng lập tức gây bệnh. DIAG sẽ giải thích chi tiết về bệnh lao phổi và cách phòng tránh trong bài viết dưới đây.

Bệnh lao phổi là gì?

Lao phổi là bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra, trong đó phổi là cơ quan bị tổn thương chủ yếu. Bệnh lây truyền qua không khí khi người mắc lao phổi ho, hắt hơi hoặc khạc nhổ, làm phát tán các hạt chứa vi khuẩn lao vào môi trường. Vi khuẩn có thể tồn tại trong cơ thể ở trạng thái tiềm ẩn mà chưa gây triệu chứng. Khi hệ miễn dịch suy yếu hoặc không kiểm soát được vi khuẩn, chúng có thể nhân lên và gây bệnh lao hoạt động.

Lao phổi là bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra
Lao phổi là bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra

Về mặt lâm sàng, cần phân biệt nhiễm lao tiềm ẩn với lao phổi hoạt động. Người nhiễm lao tiềm ẩn không có triệu chứng, không có tổn thương và thường không lây bệnh cho người khác. Ngược lại, người mắc lao phổi hoạt động có thể ho, khạc đờm, sốt, sụt cân, mệt mỏi hoặc ra mồ hôi ban đêm; nếu có vi khuẩn trong đường hô hấp, đặc biệt khi xét nghiệm đờm dương tính, họ có thể lây truyền bệnh qua không khí.

Khả năng lây nhiễm phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn được phát tán, thời gian và mức độ tiếp xúc, thông khí của môi trường cũng như tình trạng miễn dịch của người tiếp xúc.

Theo Báo cáo lao toàn cầu 2025 của WHO. Nên bỏ khoảng 176-182 vì dễ gây rối, chỉ giữ một con số ước tính kèm năm. Có thể nói thêm Việt Nam cũng nằm trong nhóm 30 nước có gánh nặng lao kháng thuốc cao.

Các giai đoạn của lao phổi

Khi một người hít phải các hạt khí dung chứa vi khuẩn lao từ người bệnh lao phổi đang hoạt động, vi khuẩn sẽ đi sâu vào các phế nang trong phổi. Tại đây, hệ miễn dịch sẽ cố gắng kiểm soát sự phát triển của chúng. Trong nhiều trường hợp, cơ thể có thể khống chế vi khuẩn thành công, nhưng vi khuẩn không bị tiêu diệt hoàn toàn mà tồn tại ở trạng thái “ngủ yên” trong mô phổi.

Y văn không phân lao phổi thành giai đoạn 1, 2, 3 như ung thư. Cách chia đang dùng trong bài là theo diễn tiến tự nhiên của bệnh, còn trong điều trị bác sĩ phân theo lao nhạy thuốc hay kháng thuốc, lao mới hay lao tái trị, mức độ tổn thương trên phim.

Nhiễm lao phổi nguyên phát

Đây là giai đoạn đầu tiên xảy ra sau khi cơ thể tiếp xúc với vi khuẩn lao phổi. Trong vài tuần đầu sau phơi nhiễm, vi khuẩn lao phổi bắt đầu nhân lên tại phổi và kích thích phản ứng miễn dịch của cơ thể. Phần lớn người bệnh ở giai đoạn này không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ có biểu hiện nhẹ như sốt thoáng qua, mệt mỏi hay ho nhẹ nên thường không được phát hiện.

Lao tiềm ẩn

Sau giai đoạn nhiễm ban đầu, đa số bệnh nhân chuyển sang trạng thái lao tiềm ẩn. Ở giai đoạn này, vi khuẩn lao vẫn tồn tại trong cơ thể nhưng ở trạng thái không hoạt động. Người bệnh hoàn toàn không có triệu chứng, không cảm thấy ốm và đặc biệt không lây bệnh cho người khác. Mặc dù không có biểu hiện bệnh, người mang lao tiềm ẩn vẫn có nguy cơ chuyển sang lao hoạt động trong tương lai. Các yếu tố làm tăng nguy cơ tái hoạt hóa bao gồm:

Lao phổi hoạt động

Đây là giai đoạn vi khuẩn lao vượt qua sự kiểm soát của hệ miễn dịch và bắt đầu sinh sôi mạnh mẽ trong phổi. Khi đó, các tổn thương viêm, hoại tử và hang lao hình thành trong nhu mô phổi. Người bệnh bắt đầu xuất hiện các triệu chứng điển hình của lao phổi, đồng thời có khả năng lây bệnh cho người khác thông qua đường hô hấp. Các biểu hiện của bệnh lao phổi hoạt động thường gặp gồm:

  • Ho kéo dài trên 2 tuần.
  • Ho đờm hoặc ho ra máu.
  • Đau tức ngực.
  • Sốt kéo dài, thường sốt nhẹ về chiều.
  • Đổ mồ hôi ban đêm.
  • Chán ăn.
  • Mệt mỏi.
  • Sụt cân không chủ ý.

Lao phổi tiến triển

Nếu lao phổi hoạt động không được chẩn đoán hoặc điều trị đầy đủ, bệnh sẽ tiếp tục phá hủy mô phổi. Ở giai đoạn này, các tổn thương lao có thể tạo thành nhiều hang lao lớn, gây xơ hóa phổi, suy giảm chức năng hô hấp hoặc dẫn đến ho ra máu nặng. Người bệnh có thể bị suy kiệt do sụt cân kéo dài và giảm khả năng lao động.

Lao ngoài phổi và lao lan tỏa

Ở một số bệnh nhân, đặc biệt là người suy giảm miễn dịch, vi khuẩn lao có thể theo đường máu hoặc hệ bạch huyết lan sang các cơ quan khác. Khi đó, bệnh không còn giới hạn ở phổi mà có thể ảnh hưởng đến:

  • Hạch bạch huyết.
  • Màng não.
  • Xương khớp.
  • Cột sống.
  • Thận.
  • Gan.
  • Tim.

Trường hợp nặng nhất là lao kê, khi vi khuẩn lan rộng khắp cơ thể qua đường máu. Đây là thể lao nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao nếu không được phát hiện và điều trị sớm.

Bệnh lao phổi có triệu chứng gì?

Dấu hiệu lao phổi thường xuất hiện từ từ trong nhiều tuần nên dễ bị nhầm với viêm phế quản, viêm phổi kéo dài hoặc các bệnh hô hấp khác.

Triệu chứng hô hấp của lao phổi

Triệu chứng lao phổi thường gặp nhất là ho kéo dài, ban đầu có thể là ho khan, sau đó ho có đờm. Người bệnh cần lưu ý tình trạng ho kéo dài từ 2 tuần trở lên, đặc biệt khi kèm đau ngực hoặc khạc đờm từ sâu trong phổi. Khi tổn thương phổi tiến triển, người bệnh có thể xuất hiện:

  • Khạc đờm, đôi khi đờm màu vàng hoặc xanh.
  • Ho ra máu hoặc đờm lẫn máu.
  • Đau ngực, đau tăng khi ho hoặc hít sâu.
  • Khó thở, thường rõ hơn khi bệnh đã lan rộng.
  • Khò khè trong một số trường hợp.

Ho ra máu là dấu hiệu cần được đánh giá sớm. Lượng máu có thể chỉ là vài vệt nhỏ trong đờm nhưng cũng có thể nhiều và gây nguy hiểm. Ho ra máu không chỉ gặp trong lao phổi mà còn có thể do giãn phế quản, ung thư phổi, viêm phổi hoặc thuyên tắc phổi.

Triệu chứng toàn thân

Bên cạnh triệu chứng hô hấp, lao phổi thường gây các biểu hiện toàn thân do tình trạng nhiễm trùng kéo dài. Người bệnh có thể sốt nhẹ, thường rõ hơn vào buổi chiều hoặc tối, kèm ớn lạnh và đổ mồ hôi ban đêm. Bệnh cũng có thể gây mệt mỏi kéo dài, ăn uống kém, sụt cân không chủ ý và cảm giác không khỏe. Các triệu chứng này thường diễn tiến âm thầm trong vài tuần hoặc vài tháng thay vì xuất hiện đột ngột.

Lao phổi có nguy hiểm không?

Lao phổi do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra. Vi khuẩn có thể phá hủy mô phổi, tạo hang lao và lan sang các cơ quan khác. Nếu không điều trị, bệnh có thể gây suy hô hấp, ho ra máu nặng, lao màng phổi hoặc lao lan tỏa. Trong trường hợp bệnh lao không được điều trị đúng có thể gây tử vong. Biến chứng lao phổi khi bệnh tiến triển và không được điều trị phù hợp:

  • Tổn thương và xơ hóa phổi, làm giảm chức năng hô hấp.
  • Tạo hang lao trong phổi.
  • Ho ra máu, đôi khi gây mất máu nghiêm trọng.
  • Tràn khí hoặc tràn dịch màng phổi.
  • Giãn phế quản và nhiễm trùng phổi tái diễn.
  • Lao lan sang não, màng não, xương, thận hoặc nhiều cơ quan khác.
  • Lao kháng thuốc do dùng thuốc sai, tự ý ngừng thuốc hoặc lây phải chủng vi khuẩn kháng thuốc.

Đối tượng dễ mắc bệnh lao phổi

Bất kỳ ai cũng có thể mắc lao phổi nếu hít phải vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Tuy nhiên, nguy cơ không giống nhau ở tất cả mọi người. Một số người dễ tiếp xúc với nguồn lây, trong khi những người khác dễ chuyển từ nhiễm lao tiềm ẩn sang lao phổi hoạt động do hệ miễn dịch suy yếu. Nguy cơ mắc lao cao hơn ở những người:

  • Tiếp xúc gần với người bị lao phổi.
  • Hệ miễn dịch suy giảm (ví dụ: nhiễm HIV).
  • Đái tháo đường.
  • Suy dinh dưỡng.
  • Hút thuốc lá hoặc lạm dụng rượu bia.
  • Nhân viên y tế.
  • Người sống hoặc làm việc trong môi trường đông đúc thông khí kém như trại giam, ký túc xá, nhà trọ chật.
  • Người dùng corticoid kéo dài hoặc thuốc sinh học ức chế miễn dịch.
  • Bệnh thận mạn lọc máu.
  • Người ghép tạng; người đang điều trị ung thư.
  • Người làm nghề tiếp xúc bụi silic; và trẻ dưới 5 tuổi sống cùng người mắc lao.

Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi

Lao phổi được chẩn đoán dựa trên sự kết hợp giữa triệu chứng lâm sàng, hình ảnh học và đặc biệt là các xét nghiệm tìm vi khuẩn lao. Hiện nay, không có một triệu chứng hay phim X-quang nào đủ để khẳng định bệnh.

Khi nghi ngờ lao phổi, bác sĩ sẽ khai thác các triệu chứng như ho kéo dài trên 2 tuần, ho ra máu, sốt nhẹ về chiều, đổ mồ hôi đêm, sụt cân và tiền sử tiếp xúc với người mắc lao.

Tiếp theo, người bệnh thường được chụp X-quang ngực để tìm các tổn thương gợi ý lao như thâm nhiễm phổi, hang lao hoặc xơ hóa phổi. Tuy nhiên, X-quang chỉ có giá trị định hướng, không thể xác định chắc chắn lao phổi.

Chụp X-quang ngực để tìm các tổn thương gợi ý lao
Chụp X-quang ngực để tìm các tổn thương gợi ý lao

Để chẩn đoán xác định, bác sĩ cần thực hiện các xét nghiệm đờm:

  • Soi đờm tìm trực khuẩn kháng cồn kháng toan (AFB).
  • Xét nghiệm GeneXpert/NAAT phát hiện DNA vi khuẩn lao và đánh giá kháng rifampicin.
  • Nuôi cấy đờm để xác định vi khuẩn lao và làm kháng thuốc đồ.

Ngoài ra, xét nghiệm máu IGRA hoặc test da Mantoux có thể giúp phát hiện cơ thể đã nhiễm vi khuẩn lao, nhưng không phân biệt được lao tiềm ẩn hay lao phổi hoạt động.

Cách chữa trị bệnh lao phổi

Lao phổi là bệnh có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ. Mục tiêu điều trị không chỉ là tiêu diệt vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis trong cơ thể mà còn ngăn ngừa tái phát, hạn chế tình trạng kháng thuốc và giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.

Thay vì sử dụng một loại thuốc duy nhất, người bệnh phải dùng phối hợp nhiều thuốc kháng lao vì vi khuẩn lao rất dễ kháng thuốc nếu điều trị không đúng cách. Phác đồ tiêu chuẩn hiện nay thường 2 tháng đầu dùng 4 thuốc, 4 tháng sau chỉ còn 2 thuốc là isoniazid và rifampicin, chứ không phải tiếp tục cả 4 thuốc.

WHO đã khuyến cáo thêm phác đồ rút ngắn 4 tháng cho người từ 12 tuổi trở lên mắc lao phổi nhạy thuốc, và lao kháng thuốc hiện có phác đồ uống 6 tháng thay cho phác đồ tiêm kéo dài trước đây.

Mục tiêu điều trị lao phổi là ngăn ngừa tái phát, hạn chế tình trạng kháng thuốc và giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.
Mục tiêu điều trị lao phổi là ngăn ngừa tái phát, hạn chế tình trạng kháng thuốc và giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.

Quá trình điều trị thường kéo dài khoảng 6 tháng và được chia thành hai giai đoạn:

  • Giai đoạn tấn công (2 tháng đầu): dùng nhiều thuốc để nhanh chóng tiêu diệt phần lớn vi khuẩn lao.
  • Giai đoạn duy trì (4 tháng tiếp theo): tiếp tục điều trị nhằm loại bỏ những vi khuẩn còn sót lại và ngăn ngừa tái phát.

Điều quan trọng nhất là không được tự ý ngưng thuốc khi thấy khỏe hơn. Nhiều người hết ho sau vài tuần nhưng vi khuẩn lao vẫn còn tồn tại trong cơ thể. Việc bỏ thuốc giữa chừng có thể dẫn đến lao kháng thuốc, khiến thời gian điều trị kéo dài hơn nhiều và khó chữa hơn.

Rifampicin làm nước tiểu, nước mắt chuyển màu đỏ cam, đây là hiện tượng bình thường không cần ngưng thuốc; isoniazid có thể gây tê bì chân tay nên thường được bổ sung vitamin B6; ethambutol có thể ảnh hưởng thị lực và phân biệt màu, cần báo bác sĩ ngay khi nhìn mờ.

Dấu hiệu phải đi khám ngay: vàng da vàng mắt, buồn nôn nhiều, đau bụng vùng gan, phát ban toàn thân. Cũng nên lưu ý rifampicin làm giảm tác dụng thuốc tránh thai.

Cách phòng tránh bệnh lao phổi

Để phòng ngừa lao phổi, cần kết hợp nhiều biện pháp nhằm giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao và ngăn bệnh tiến triển thành lao hoạt động.

  • Tiêm vắc xin BCG đầy đủ: Tiêm vắc xin BCG cho trẻ sơ sinh theo chương trình tiêm chủng quốc gia. BCG giúp giảm nguy cơ mắc các thể lao nặng như lao kê và lao màng não ở trẻ em.
  • Hạn chế tiếp xúc với nguồn lây: Tránh tiếp xúc gần với người đang mắc lao phổi chưa được điều trị. Đeo khẩu trang khi chăm sóc hoặc sống chung với người bệnh. Che miệng khi ho, hắt hơi để hạn chế phát tán vi khuẩn lao.
  • Giữ môi trường sống thông thoáng: Mở cửa sổ thường xuyên để lưu thông không khí. Tăng cường ánh sáng tự nhiên trong nhà. Hạn chế ở lâu trong không gian kín, đông người và thiếu thông khí.
  • Nâng cao sức đề kháng: Ăn uống đầy đủ dinh dưỡng. Tập thể dục đều đặn. Ngủ đủ giấc và kiểm soát căng thẳng. Không hút thuốc lá và hạn chế rượu bia.
  • Kiểm soát các bệnh lý làm tăng nguy cơ mắc lao: Điều trị tốt đái tháo đường. Quản lý HIV/AIDS và các bệnh gây suy giảm miễn dịch. Tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ khi sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.
  • Tầm soát và điều trị lao tiềm ẩn ở nhóm nguy cơ cao: Người sống chung với bệnh nhân lao; Người nhiễm HIV; Nhân viên y tế hoặc người thường xuyên tiếp xúc với nguồn lây. Điều trị lao tiềm ẩn giúp giảm nguy cơ chuyển thành lao phổi hoạt động.

Những câu hỏi về bệnh lao phổi

Lao phổi thâm nhiễm là gì?

Lao phổi thâm nhiễm là một thể tổn thương của lao phổi, trong đó vi khuẩn lao gây viêm tại nhu mô phổi. Các phế nang bị lấp đầy bởi dịch viêm, tế bào miễn dịch và mô bệnh lý nên trên X-quang hoặc CT thường thấy đám mờ hoặc vùng đông đặc trong phổi. Đây là tình trạng “đám viêm do lao” xuất hiện trong phổi, thường gặp ở vùng đỉnh hoặc các thùy trên. Hình ảnh thâm nhiễm có thể là đám mờ không đồng nhất, bờ rõ hoặc không rõ; đôi khi tổn thương lan rộng cả một phân thùy hoặc thùy phổi.

Bệnh lao phổi có truyền dịch được không?

Bệnh nhân có thể truyền dịch nếu có chỉ định y tế. Bệnh lao phổi không chống chỉ định truyền dịch, nhưng truyền dịch cũng không điều trị được vi khuẩn lao. Bác sĩ có thể cân nhắc truyền dịch khi người bệnh bị mất nước, nôn nhiều, ăn uống kém, tụt huyết áp hoặc cần dùng thuốc qua đường tĩnh mạch. Nếu người bệnh vẫn tỉnh táo, uống được và huyết áp ổn định thì thường không cần truyền dịch chỉ để “bồi bổ” hoặc nhanh hồi phục.

Người bị lao phổi sống được bao lâu?

Không thể xác định chính xác người bị lao phổi sống được bao lâu chỉ dựa vào chẩn đoán. Nếu được phát hiện sớm, lao phổi còn nhạy thuốc và người bệnh dùng đủ phác đồ, đa số có thể khỏi bệnh và sống lâu dài gần như bình thường.

Bị lao phổi nhưng không ho có sao không?

Trường hợp người bị lao phổi nhưng không ho vẫn có thể xảy ra. Tuy nhiên, không ho không có nghĩa là bệnh nhẹ hoặc chắc chắn không lây. Một số trường hợp không ho vì:

  • Bệnh đang ở giai đoạn sớm hoặc tổn thương phổi còn nhỏ.
  • Người bệnh mắc lao tiềm ẩn, chưa phải lao phổi hoạt động.
  • Người cao tuổi, trẻ nhỏ hoặc người suy giảm miễn dịch có biểu hiện không điển hình.
  • Bệnh chỉ gây mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, sốt nhẹ hoặc đổ mồ hôi ban đêm.

Lao phổi điều trị bao lâu?

Thời gian điều trị lao phổi phụ thuộc vào vi khuẩn còn nhạy thuốc hay đã kháng thuốc, mức độ bệnh và đáp ứng điều trị. Theo quyết định 162/QĐ-BYT năm 2024 của Bộ Y tế về chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh lao, phác đồ thường dùng kéo dài 6 tháng. Tuy nhiên, một số phác đồ đặc biệt có thể kéo dài 4 hoặc 9 tháng, tùy tuổi, tình trạng bệnh và hướng dẫn điều trị cụ thể.