Sỏi bể thận và sỏi đài bể thận đều là các dạng sỏi hình thành ngay bên trong thận. Tuy nhiên, mỗi loại sỏi có sự khác biệt nhất và do đó có thể dẫn đến những nguy cơ biến chứng khác nhau. Đặc biệt là biến chứng suy thận hoặc nhiễm trùng huyết nếu không được chữa trị kịp thời.

Lưu ý: Thông tin y khoa trong bài viết chỉ mang tính tham khảo và không thay thế cho chẩn đoán, tư vấn, điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Mọi quyết định áp dụng thông tin y khoa trong bài viết cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá dựa trên nhu cầu và tình trạng sức khỏe cụ thể trước khi thực hiện.

Sỏi bể thận là gì?

Sỏi bể thận là viên sỏi hình thành và nằm trong bể thận. Đây là một dạng của sỏi thận, vì bể thận là một cấu trúc của hệ thống thu gom nước tiểu nằm trong quả thận.

Những viên sỏi bể thận này dễ gây tắc nghẽn dòng nước tiểu từ thận xuống niệu quản, từ đó gây ra các triệu chứng như đau quặn thận, tiểu máu hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu. Nếu không điều trị, sỏi thận có thể phát triển lớn, lan rộng sang các đài thận và phát triển thành sỏi san hô rất nguy hiểm.

Sỏi bể thận là viên sỏi hình thành và phát triển ngay trong bể thận, có thể lan rộng sang đài thận tạo thành sỏi đài bể thận.
Sỏi bể thận là viên sỏi hình thành và phát triển ngay trong bể thận, có thể lan rộng sang đài thận tạo thành sỏi đài bể thận.

Sỏi đài bể thận là gì?

Sỏi đài bể thận cũng là một dạng sỏi thận xuất hiện ở cả đài thận và bể thận. Tình trạng này có thể bao gồm nhiều viên sỏi nhỏ nằm rải rác hoặc là một viên sỏi lớn có hình dạng phân nhánh, bám theo các nhánh của đài – bể thận.

Trên thực tế, sỏi đài bể thận có thể hình thành độc lập hoặc phát triển từ sỏi bể thận khi tình trạng sỏi lan rộng lên các đài thận.

  • Nếu hình thành độc lập: Tình trạng mất cân bằng môi trường nước tiểu tạo điều kiện cho sỏi hình thành đồng thời ở cả các đài thận và bể thận.
  • Nếu phát triển từ sỏi bể thận: Đây là tình trạng lan rộng và phức tạp. Các viên sỏi không chỉ nằm ở bể thận mà đã chiếm nhiều vị trí trong hệ thống của quả thận.

Trường hợp điển hình nhất của sỏi đài bể thận là sỏi san hô, có hình dáng như sừng hươu và thường chiếm gần hết thể tích hệ thống đài – bể thận.

Xem thêm: Các loại sỏi thận

Nhiều trường hợp sỏi đài bể thận phát triển từ chính sỏi bể thận, có thể phân nhánh và lan sâu trong các đài thận, từ đó gây biến chứng nguy hiểm đến chức năng thận lâu dài.
Nhiều trường hợp sỏi đài bể thận phát triển từ chính sỏi bể thận, có thể phân nhánh và lan sâu trong các đài thận, từ đó gây biến chứng nguy hiểm đến chức năng thận lâu dài.

Sỏi bể thận và Sỏi đài bể thận có nguy hiểm không?

Sỏi bể thận thường không gây nguy hiểm ngay lập tức nhưng nó có thể tiềm ẩn nguy cơ tiến triển nặng nếu không được điều trị sớm. Do nằm tại vị trí trung tâm hệ thống dẫn nước tiểu nên sỏi dễ gây tắc nghẽn dòng chảy từ thận xuống niệu quản.

Khi kích thước lớn dần hoặc trong quá trình di chuyển từ thận đến niệu quản, sỏi bể thận có thể gây ra các cơn đau quặn thận và tiểu ra máu. Nhiều trường hợp có thể bị ứ nước thận hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu.

Đau quặn thận là biểu hiện rõ ràng nếu tình trạng sỏi thận tiến triển nặng thêm.
Đau quặn thận là biểu hiện rõ ràng nếu tình trạng sỏi thận tiến triển nặng thêm.

Sỏi đài bể thận có mức độ nguy hiểm cao hơn nhiều so với sỏi bể thận, đặc biệt nếu là dạng san hô. Sỏi này thường có kích thước lớn hoặc nhiều viên sỏi, lan rộng toàn bộ hệ thống thu gom nước tiểu (đài nhỏ, đài lớn và bể thận).

Vì chiếm diện tích lớn và thường bám sát cấu trúc thận nên sỏi đài bể thận ít có khả năng tự thoát ra ngoài theo đường tiểu. Vậy nên nó dễ gây tắc nghẽn hoàn toàn hệ tiết niệu, dẫn đến ứ nước nặng, giãn đài bể thận và làm tổn thương mô thận.

Mức độ nguy hiểm sẽ tăng cao nếu sỏi đài bể thận là loại sỏi struvite. Loại sỏi này thường đi kèm với nhiễm trùng đường tiểu mạn tính, do đó làm tăng nguy cơ nhiễm trùng ngược dòng, viêm bể thận và nhiễm trùng huyết.

Nhiều trường hợp mắc sỏi đài bể thận có thể dẫn đến suy thận mạn tính không phục hồi nếu không được can thiệp điều trị kịp thời.

Xem thêm: Cặn sỏi thận

Hướng chẩn đoán sỏi bể thận và đài bể thận

Việc chẩn đoán cả hai dạng sỏi thận đều phải dựa trên các triệu chứng, kết quả xét nghiệm nước tiểu cùng chẩn đoán hình ảnh học.

Đau âm ỉ vùng hông lưng hoặc đau quặn từng cơn, tiểu ra máu thường gợi ý đang có sỏi. Nếu kèm theo sốt cao, ớn lạnh thì khả năng là viêm bể thận. Nếu có thêm tiểu buốt, tiểu đục thì nghi ngờ sỏi kèm theo nhiễm trùng đường tiết niệu.

Để đưa ra kết luận chính xác, bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện xét nghiệm nước tiểu/máu cùng chẩn đoán hình ảnh.

  • Xét nghiệm nước tiểu: Xét nghiệm giúp phát hiện các dấu hiệu gián tiếp của sỏi như hồng cầu (xác định tiểu máu do tổn thương niêm mạc đường tiểu), bạch cầu hoặc nitrit (cho thấy nhiễm trùng tiểu đi kèm), pH nước tiểu (pH kiềm gợi ý sỏi do vi khuẩn phân giải ure, pH axit gợi ý sỏi uric).
  • Xét nghiệm máu: Xét nghiệm giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của sỏi lên chức năng thận. Chẳng hạn như hỗ trợ xác định suy thận nếu creatinin máu và ure máu tăng, viêm nhiễm tiết niệu nếu bạch cầu tăng, hoặc rối loạn chuyển hoá liên quan đến tăng canxi, tăng axit uric.
  • Siêu âm bụng – thận – tiết niệu: Đây là phương pháp ban đầu nhằm phát hiện sỏi ≥ 5mm nhằm đánh giá tình trạng ứ nước thận và giãn đài – bể thận. Tuy nhiên, siêu âm không thể phát hiện các sỏi nhỏ hay nằm sâu trong đài thận.
  • Chụp X-quang hệ tiết niệu (KUB): Phương pháp này giúp phát hiện sỏi canxi oxalat và sỏi struvite. KUB thường được thực hiện cùng với siêu âm để tăng độ chính xác.
  • Chụp CT không cản quang (CT-KUB): Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán hầu hết các loại sỏi, đồng thời xác định được vị trí, kích thước, số lượng và mức độ giãn đài bể thận.
  • Chụp CT có cản quang: Phương pháp này được sử dụng để đánh giá toàn bộ hệ tiết niệu thông qua hình ảnh động học của dòng chảy nước tiểu. Bác sĩ có thể đánh giá sự biến dạng cấu trúc đài – bể thận, vị trí của sỏi gây ra tắc nghẽn, và chức năng của hai quả thận.

Xem thêm: Cặn vôi thận

Cách điều trị sỏi bể thận và đài bể thận

Điều trị sỏi bể thận

Nếu sỏi nhỏ (< 5 – 7mm) và không gây triệu chứng thì có thể được đào thải bằng cách tăng lượng nước uống mỗi ngày, thường trên 2 – 2.5 lít/ngày. Đồng thời, chế độ ăn uống cần điều chỉnh giảm muối, đạm và oxalat nếu cần thiết. Một số trường hợp bác sĩ có thể cân nhắc chỉ định dùng thuốc để hỗ trợ đào thải sỏi thận.

Nếu sỏi lớn (> 7mm) hoặc có triệu chứng đau, đái ra máu, nhiễm trùng thì bác sĩ sẽ xem xét áp dụng các biện pháp chữa trị sau:

  • Tán sỏi ngoài cơ thể: Phương pháp này dùng sóng xung kích từ bên ngoài cơ thể để làm vỡ sỏi thành mảnh nhỏ, giúp chúng theo nước tiểu ra ngoài. Tuy nhiên, hiệu quả tán sỏi có thể giảm nếu viên sỏi quá cứng, quá lớn hoặc nằm sâu trong đài thận.
  • Nội soi tán sỏi qua niệu quản: Bác sĩ sử dụng ống nội soi đưa từ đường tiểu ngược dòng lên bể thận, sau đó dùng laser phá vỡ viên sỏi tại chỗ. Một số trường hợp có thể cần đặt ống thông (JJ stent) sau can thiệp để giúp dẫn lưu nước tiểu.
  • Tán sỏi qua da: Đây là phương pháp xâm lấn tối thiểu tạo một đường hầm nhỏ từ lưng vào thận để tiếp cận sỏi bằng nội soi, sau đó bắt đầu tán sỏi và lấy ra trực tiếp hoặc để mảnh sỏi được thải ra theo dòng nước tiểu. Tán sỏi qua da phù hợp với sỏi cứng, lan rộng, hoặc gây ứ nước thận nặng.
  • Phẫu thuật mổ mở: Phẫu thuật được sử dụng khi sỏi quá lớn, có dị dạng đường tiết niệu, hoặc các kỹ thuật nội soi không đủ hiệu quả. Bác sĩ sẽ mổ trực tiếp vào thận để lấy toàn bộ sỏi và xử lý tổn thương kèm theo. Dù hiệu quả nhưng phẫu thuật sẽ gây đau nhiều hơn và thời gian hồi phục lâu hơn, do đó hiện ít được chỉ định thực hiện.

Điều trị sỏi đài bể thận

Sỏi đài bể thận chủ yếu là sỏi lớn và lan rộng nên cần can thiệp mạnh hơn chứ không thể uống nước mà có thể hết sỏi. Tùy theo trường hợp mà bác sĩ sẽ chỉ định tán sỏi hoặc nội soi kết hợp, đôi khi cần phải điều trị nhiễm trùng kèm theo.

  • Tán sỏi qua da: Đây là phương pháp tiêu chuẩn vàng khi điều trị sỏi đài bể thận lớn, đặc biệt là sỏi dạng phân nhánh hoặc sỏi san hô. Bác sĩ sẽ tạo một đường hầm nhỏ xuyên qua da lưng vào hệ thống đài – bể thận và phát hiện vị trí của sỏi bằng nội soi, sau đó tiến hành tán để lấy sỏi ra khỏi cơ thể. Kỹ thuật này có hiệu quả rất cao có thể giúp lấy sạch sỏi trong lần thực hiện.
  • Nội soi kết hợp: Kỹ thuật này kết hợp hai đường tiếp cận đồng thời là qua da và ngược dòng từ niệu quản, cho phép xử lý sỏi ở nhiều vị trí trong đài và bể thận cùng lúc. Nội soi kết hợp được đánh giá là tối ưu với những trường hợp sỏi phức tạp, nhiều nhánh hoặc khó tiếp cận nhờ khả năng tiếp cận sỏi ở mọi vị trí trong hệ thống thận và làm sạch triệt để hơn. Nội soi kết hợp giúp giảm tối đa số lần phẫu thuật cũng như tăng tỷ lệ sạch sỏi đáng kể.
Mô tả phương pháp Nội soi kết hợp (ECIRS – Endoscopic Combined Intrarenal Surgery). Trong PCNL: dụng cụ nội soi đi xuyên qua da vùng lưng vào thận trái để tiếp cận hệ thống đài - bể thận và tiến hành tán sỏi thận bằng sóng siêu âm - khí nén - hút sỏi đồng thời. Trong URS: ống soi mềm được đưa từ niệu đạo → bàng quang → niệu quản → thận phải để tiếp cận và xử lý các sỏi nằm sâu trong đài thận mà PCNL không tới được.
Mô tả phương pháp Nội soi kết hợp (ECIRS – Endoscopic Combined Intrarenal Surgery). Trong PCNL: dụng cụ nội soi đi xuyên qua da vùng lưng vào thận trái để tiếp cận hệ thống đài – bể thận và tiến hành tán sỏi thận bằng sóng siêu âm – khí nén – hút sỏi đồng thời. Trong URS: ống soi mềm được đưa từ niệu đạo → bàng quang → niệu quản → thận phải để tiếp cận và xử lý các sỏi nằm sâu trong đài thận mà PCNL không tới được.

Hướng dẫn phòng ngừa sỏi bể thận và đài bể thận

Tương tự như nhiều loại sỏi khác, cả hai dạng sỏi thận này đều có thể được phòng ngừa bằng cách thay đổi lối sống lành mạnh hơn. Những giải pháp chăm sóc tuy đơn giản nhưng mang đến hiệu quả rất cao nếu được thực hiện đúng cách.

Bạn có thể áp dụng các biện pháp phòng tránh sỏi thận từ chuyên gia thuộc Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (AUA) và Châu Âu (EAU) như sau:

  • Uống nhiều nước lọc tối thiểu 2 – 2.5 lít/ngày để làm loãng nước tiểu và ngăn kết tinh khoáng chất tạo sỏi thận.
  • Chỉ nên ăn vào 3 – 4g muối ăn/ngày vì natri làm tăng bài tiết canxi trong nước tiểu góp phần hình thành sỏi.
  • Hạn chế ăn thực phẩm giàu oxalat như rau bina, củ dền, socola, trà đặc, khoai lang… để giảm nguy cơ sỏi calci oxalat.
  • Ăn đủ lượng canxi từ thực phẩm (không nên kiêng hoàn toàn) vì thiếu canxi có thể làm tăng hấp thu oxalat trong ruột.
  • Giảm tiêu thụ đạm động vật (thịt đỏ, nội tạng, hải sản) vì làm tăng axit uric và giảm pH nước tiểu dễ tạo sỏi axit uric.
  • Hạn chế đồ uống có đường, đặc biệt là đường fructose (có trong nước ngọt, siro) vì thúc đẩy tăng axit uric và tạo điều kiện kết tinh sỏi.
  • Duy trì cân nặng hợp lý vì béo phìhội chứng chuyển hóa là yếu tố nguy cơ hình thành sỏi thận.

Xem thêm