Bài viết giải thích chi tiết về phác đồ điều trị sỏi thận Bộ Y Tế được ban hành kèm theo Quyết định số 3931/QĐ-BYT ngày 21/9/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Lưu ý: Thông tin y khoa trong bài viết chỉ mang tính tham khảo và không thay thế cho chẩn đoán, tư vấn, điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Mọi quyết định áp dụng thông tin y khoa trong bài viết cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá dựa trên nhu cầu và tình trạng sức khỏe cụ thể trước khi thực hiện.

Điều trị nội khoa

Mục tiêu chính là giúp sỏi nhỏ tự bài xuất qua đường tiểu nếu có thể, giảm triệu chứng/biến chứng, hỗ trợ ngừa tái phát và nguy cơ tiến triển nặng thêm.

Điều trị cơn đau quặn thận do sỏi thận

Ưu tiên hàng đầu trong điều trị là giúp giảm nhanh triệu chứng đau dữ dội. Đồng thời, người bệnh được hỗ trợ làm thông dòng tiểu để sỏi tự đi ra khỏi cơ thể một cách tự nhiên và hạn chế tối đa các biến chứng nguy hiểm.

Phác đồ Bộ Y Tế hướng dẫn như sau:

  • Giảm uống nước tạm thời trong lúc đau: Vì lúc này không thể bài tiết nước tiểu do kẹt sỏi thận nên việc uống thêm nước sẽ làm tăng áp lực khiến cơn đau quặn thận nặng hơn. Sau khi hết đau và đường tiểu thông suốt thì có thể uống nước lại bình thường.
  • Giảm đau bằng thuốc dưới sự giám sát của bác sĩ:
    • Thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAID): Giúp giảm viêm và giảm đau nhanh chóng, như thuốc Diclofenac (Voltarene) tiêm tĩnh mạch.
    • Morphin: Dùng trong trường hợp đau nặng, khó kiểm soát (thường khi NSAID không hiệu quả).
  • Giảm co thắt bằng thuốc giãn cơ trơn: Các loại thuốc (như Buscopan, Drotaverin) giúp giảm co thắt niệu quản do kẹt sỏi gây ra, nhờ đó giảm triệu chứng đau và tạo điều kiện để sỏi thận dễ trôi xuống hơn.
  • Dùng kháng sinh nếu có nhiễm trùng (sốt, nước tiểu đục, có mùi hôi…): Ưu tiên chọn các loại kháng sinh có tác dụng với vi khuẩn gram âm, vì đây là nhóm vi khuẩn thường gây nhiễm trùng đường tiết niệu. Một số thuốc phổ biến là Cephalosporin thế hệ 3, Quinolone, Aminoside được cân nhắc với liều lượng phù hợp, hoặc không sử dụng tùy mức độ suy thận.
  • Giải quyết nguyên nhân gây tắc nghẽn niệu quản: Cần phẫu thuật sớm nếu cơn đau quặn thận không thuyên giảm dù đã dùng thuốc. Mục đích là tránh làm tổn thương thận do tắc nghẽn kéo dài.
    • Dẫn lưu tối thiểu bể thận qua da: Đặt ống dẫn lưu để nước tiểu thoát ra ngoài tạm thời.
    • Mổ cấp cứu hoặc nội soi lấy sỏi: Quyết định này sẽ tùy thuộc vào số lượng sỏi, kích thước sỏi, cơ địa người bệnh, và tình trạng chức năng thận hiện tại.
Phác đồ điều trị sỏi thận Bộ Y Tế yêu cầu dùng thuốc giảm đau (nếu cần) để điều trị hiệu quả cơn đau quặn thận do sỏi thận gây ra.
Phác đồ điều trị sỏi thận Bộ Y Tế yêu cầu dùng thuốc giảm đau (nếu cần) để điều trị hiệu quả cơn đau quặn thận do sỏi thận gây ra.

Các lưu ý điều trị sỏi bằng nội khoa

  • Đối với sỏi nhỏ và trơn láng: Uống nhiều nước kết hợp dùng thuốc giảm sưng viêm sẽ giúp sỏi tự trôi ra ngoài qua nước tiểu mà không cần mổ hay can thiệp sâu.
  • Đối với sỏi axit uric: Đây là loại sỏi thận có ở môi trường nước tiểu có độ pH < 6, do đó cần áp dụng các biện pháp kiềm hóa nước tiểu sau đây để làm tan sỏi:
    • Giảm ăn đạm.
    • Kiêng rượu bia, thuốc lá.
    • Uống > 2 lít nước lọc mỗi ngày.
    • Dùng thuốc Bicarbonate de Sodium để kiềm hóa nước tiểu, hoặc Allopurinol  để giảm nồng độ axit uric niệu.

Xem thêm: Sỏi thận có nguy hiểm không?

Điều trị nội khoa sau phẫu thuật mổ lấy sỏi

Mặc dù phẫu thuật đã lấy viên sỏi ra khỏi cơ thể nhưng nguy cơ tái phát vẫn cao. Phác đồ điều trị lúc này được thay đổi để ngăn hình thành sỏi mới, giải quyết các nguyên nhân gây sỏi nếu còn tồn đọng, và phục hồi lại chức năng tiết niệu.

Phác đồ điều trị nội khoa sau mổ thường gồm các bước:

  • Uống nhiều nước để tăng nước tiểu, rửa sạch đường tiết niệu và cuốn trôi các tinh thể nhỏ còn sót lại sau phẫu thuật.
  • Dùng thuốc điều chỉnh môi trường nước tiểu tùy vào loại sỏi:
    • Kiềm hóa nước tiểu nếu tái phát sỏi axit uric.
    • Dùng thuốc giảm canxi niệu nếu tái phát sỏi canxi.
  • Dùng thuốc kháng sinh nếu nhiễm trùng chưa được điều trị điều trị triệt để hoặc dễ tái phát.
  • Theo dõi định kỳ qua siêu âm, phim X-quang hoặc CT để phát hiện sớm sỏi mới hoặc mảnh sỏi còn sót.
  • Xử lý các đoạn hẹp trong đường tiết niệu để ngăn ứ đọng nước tiểu gây tái phát sỏi thận, chẳng hạn như hẹp do bẩm sinh, sẹo, nhiễm trùng lâu ngày…
Uống nhiều nước là biện pháp quan trọng hàng đầu trong mọi phác đồ điều trị sỏi thận.
Uống nhiều nước là biện pháp quan trọng hàng đầu trong mọi phác đồ điều trị sỏi thận.

Điều trị ngoại khoa

Mục tiêu chính của điều trị ngoại khoa là lấy sạch sỏi ra để giảm đau, chặn nguy cơ tắc nghẽn đường tiểu, nhiễm trùng, suy giảm chức năng thận.

  • Mổ lấy sỏi: Bác sĩ sẽ rạch da để trực tiếp lấy sỏi ra khỏi thận hoặc niệu quản. Phương pháp này hiệu quả khi sỏi quá nhiều, lớn, cứng, nằm ở vị trí bất lợi, hoặc khi các phương pháp ít xâm lấn khác không thể áp dụng.
  • Phẫu thuật nội soi lấy sỏi: Bác sĩ đưa một ống soi mềm nhỏ từ niệu đạo → bàng quang → niệu quản → thận để lấy nguyên viên sỏi ra ngoài dưới sự hướng dẫn của nội soi. Nếu sỏi quá lớn thì bác sĩ sẽ dùng laser hoặc dụng cụ tán phá sỏi, sau đó lấy các mảnh sỏi nhỏ ra ngoài.
  • Lấy sỏi niệu quản qua da: Bác sĩ rạch một vết nhỏ ở lưng để tạo một đường ống nhỏ từ da đến thận. Sau đó bác sĩ đưa ống soi trực tiếp vào thận và tiến hành lấy sỏi ra ngoài qua đường ống này.

Xem thêm: Cách phòng bệnh sỏi thận

Điều trị bằng cách tán sỏi

Mục tiêu của điều trị tán sỏi là phá vỡ viên sỏi trong thận hoặc niệu quản thành các mảnh nhỏ để chúng có thể tự theo dòng nước tiểu ra ngoài. Tán sỏi mang đến hiệu quả cao, ít xâm lấn, hồi phục nhanh, giảm đáng kể nguy cơ biến chứng, và hỗ trợ bảo tồn chức năng thận mà không cần phải mổ mấy sỏi.

  • Tán sỏi ngoài cơ thể: Bác sĩ sử dụng sóng xung kích được phát từ ngoài cơ thể để làm vỡ sỏi thành nhiều mảnh. Các mảnh sỏi sau đó sẽ đi ra ngoài theo dòng tiểu. Phương pháp này phù hợp với sỏi có kích thước nhỏ đến trung bình (< 2 cm); sỏi ở thận hoặc niệu quản khi đáp ứng các điều kiện về vị trí, hình dạng, đường tiểu bình thường.
  • Tán sỏi nội soi: Bác sĩ dùng một ống soi mềm nhỏ đi từ lỗ tiểu đến vùng có sỏi, rồi dùng thiết bị (laser, dụng cụ tán/bấm sỏi) để phá sỏi. Những mảnh sỏi nhỏ sau khi được tán sẽ đi ra ngoài theo dòng nước tiểu. Mặc dù không cần phẫu thuật nhưng tán sỏi nội soi có thể phải thực hiện nhiều lần nếu có nhiều sỏi nhỏ, sỏi quá lớn, quá cứng hoặc ở vị trí khó tiếp cận bằng ống soi.
Tán sỏi ngoài cơ thể có ưu điểm là không cần mổ, không rạch da với độ an toàn cao, nhưng hiệu quả còn tùy theo độ lớn và độ cứng của sỏi.
Tán sỏi ngoài cơ thể có ưu điểm là không cần mổ, không rạch da với độ an toàn cao, nhưng hiệu quả còn tùy theo độ lớn và độ cứng của sỏi.

Điều trị dự phòng

Dù bạn từng bị loại sỏi nào thì nguyên tắc chung là: uống đủ nước để làm loãng nước tiểu và giảm cô đặc các khoáng chất gây sỏi. Mục tiêu là đảm bảo lượng nước tiểu ra mỗi ngày > 2 lít, tức là cần uống vào khoảng 2.5 – 3 lít nước/ngày.

Ngoài ra, tùy loại sỏi và trường hợp đặc biệt sẽ có thêm những yêu cầu điều trị dự phòng khác nhau về thói quen sống hàng ngày:

  • Sỏi canxi (nếu tăng canxi niệu vô căn): Chế độ ăn uống cần đảm bảo nạp vào các chất với hàm lượng cụ thể:
    • Muối khoảng 6 – 9 g/ngày.
    • Đạm khoảng 1.2 g/kg cân nặng/ngày.
    • Canxi khoảng 800 – 1.000 mg/ngày.
  • Sỏi oxalat (nếu tăng oxalat niệu vô căn): Điều trị dự phòng có thể cần kết hợp cả thay đổi chế độ ăn và dùng thuốc:
    • Hạn chế thực phẩm giàu oxalate như rau dền, củ cải đỏ, chocolate, trà đặc, cải bó xôi.
    • Bổ sung canxi đúng mức trong bữa ăn theo hướng dẫn của bác sĩ để tăng hấp thu oxalat tại ruột.
    • Nếu kèm theo tăng axit uric niệu: Có thể dùng thuốc Allopurinol để giảm tạo axit uric, từ đó gián tiếp làm giảm oxalat và ngừa sỏi.
  • Sỏi uric: Sỏi này hình thành khi nước tiểu quá axit (pH < 6). Do đó, mục tiêu điều trị là kiểm soát chế độ ăn và dùng thuốc:
    • Kiềm hóa nước tiểu bằng thuốc với pH 6.5 là lý tưởng để làm tan sỏi, tránh để pH > 7 vì sẽ tạo điều kiện hình thành sỏi canxi phosphat.
    • Giảm tiêu thụ thực phẩm chứa purine như thịt đỏ, hải sản, nội tạng, rượu bia… vì purine trong các thực phẩm này sẽ chuyển hóa thành axit uric.
    • Có thể dùng thuốc Allopurinol nếu axit uric niệu > 4 mmol/ngày dù đã kiêng thực phẩm chứa purine.
  • Sỏi struvite (sỏi do nhiễm trùng): Mục tiêu là kiểm soát và điều trị triệt để nhiễm trùng sau khi loại bỏ hết sỏi, vì vi khuẩn đường tiết niệu thường làm sỏi lớn nhanh.
    • Uống kháng sinh kéo dài 2 – 3 tháng để tiêu diệt vi khuẩn gây sỏi.
    • Ưu tiên chọn loại kháng sinh thấm tốt vào nhu mô thận (Cotrimoxazole, Quinolone).
  • Sỏi cystine: Đây là loại sỏi dễ tái phát, thường do nguyên nhân di truyền khiến cơ thể thải ra nhiều cystine trong nước tiểu. Mục tiêu điều trị dự phòng cần phải:
    • Uống rất nhiều nước để đảm bảo lượng nước tiểu thải ra > 3 lít/ngày nhằm pha loãng cystine.
    • Kiềm hóa nước tiểu đến pH 7.5 – 8 bằng thuốc như Natri bicarbonate (liều khoảng 8 – 16 g/ngày) để làm tan sỏi.
    • Đảm bảo lượng cystine niệu < 600 – 800 (mol/L) để giảm nguy cơ gây sỏi.

Xem thêm