Biến chứng sau mổ sỏi thận thường gặp ở những bệnh nhân có sỏi lớn hoặc sỏi phức tạp (như sỏi san hô) vì cần phẫu thuật kéo dài và phải mở rộng đường tiếp cận viên sỏi. Người cao tuổi, bệnh nhân có bệnh nền như tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn đông máu hoặc suy giảm miễn dịch cũng dễ bị nhiễm trùng, chảy máu hay chậm hồi phục sau mổ.

Lưu ý: Thông tin y khoa trong bài viết chỉ mang tính tham khảo và không thay thế cho chẩn đoán, tư vấn, điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Mọi quyết định áp dụng thông tin y khoa trong bài viết cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá dựa trên nhu cầu và tình trạng sức khỏe cụ thể trước khi thực hiện.

Vì sao biến chứng có thể xảy ra sau mổ sỏi thận?

Mổ sỏi thận có thể được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật khác nhau. Đây là những kỹ thuật ít xâm lấn giúp lấy sỏi ra ngoài cơ thể một cách hiệu quả, nhưng vẫn tồn tại một số nguy cơ biến chứng. Điều này có thể xảy ra do các tác động cơ học, sinh lý hoặc vi khuẩn gây ra.

  • Do tác động cơ học: Biến chứng xảy ra khi dụng cụ phẫu thuật (như kim chọc, ống soi hoặc tia laser) tác động trực tiếp lên nhu mô thận hoặc niệu quản.
  • Do tác động sinh lý: Phẫu thuật là một dạng “stress” sinh lý khiến cơ thể phản ứng bằng co mạch, thay đổi huyết động và rối loạn cân bằng nước – điện giải.
  • Do vi khuẩn: Khi sỏi chứa vi khuẩn hoặc màng sinh học bị phá vỡ, vi khuẩn có thể lan vào máu và gây nhiễm trùng tiết niệu hoặc nhiễm khuẩn huyết.

Trong đó, các biến chứng liên quan đến tổn thương nhu mô thận (như tụ máu, rò động mạch) thường chỉ gặp trong phương pháp Tán sỏi qua da (PCNL) hoặc mổ mở, và hiếm gặp ở nội soi ngược dòng.

Điểm đáng lưu ý là cả ba cơ chế này thường tác động đồng thời. Vậy nên việc đánh giá hiệu quả điều trị, chăm sóc và phòng ngừa biến chứng sau mổ cần phối hợp giữa kỹ thuật chính xác, kiểm soát sinh lý ổn định và vô khuẩn tuyệt đối.

Xem thêm: Mổ sỏi thận xong nên ăn gì?

    Thực tế vẫn có nhiều trường hợp bị tái phát sỏi do mảnh vỡ của nhỏ sau điều trị (thường bằng phương pháp tán sỏi) nằm ở vị trí khó tự đào thải. Chúng kẹt lại và phát triển lớn dần theo thời gian.Thực tế vẫn có nhiều trường hợp bị tái phát sỏi do mảnh vỡ của nhỏ sau điều trị (thường bằng phương pháp tán sỏi) nằm ở vị trí khó tự đào thải. Chúng kẹt lại và phát triển lớn dần theo thời gian.

Các biến chứng sau mổ sỏi thận có thể gặp phải

Nhóm biến chứng ít gặp nhưng cần theo dõi chặt chẽ

  • Tồn dư sỏi thận: Một số mảnh sỏi sau mổ có thể bị sót lại, sau đó chúng tiếp tục phát triển thành sỏi mới. Biến chứng này có thể gặp trong những trường hợp sỏi ban đầu nằm ở vị trí khó tiếp cận hoặc bị che khuất trong đài thận.

Đối với những ca bệnh cần điều trị bằng phương pháp Tán sỏi qua da (PCNL) hoặc mổ mở thì người bệnh có thể gặp các biến chứng liên quan đến tổn thương nhu mô thận sau đây:

  • Rò nước tiểu: Nước tiểu rò ra ngoài mô quanh thận qua đường chọc hoặc ống dẫn lưu. Nguyên nhân là do bể thận bị rách nhẹ hoặc ống dẫn lưu không đặt đúng vị trí khi kết thúc mổ.
  • Tụ máu nhỏ quanh thận: Trong quá trình mổ thận mà đường chọc đến thận đi qua mạch máu hoặc thao tác nong đường dẫn quá mạnh thì máu có thể rỉ ra và tích tụ quanh thận. Tình trạng này có thể gây đau hoặc chèn ép nhẹ.

Xem thêm: Chi phí mổ sỏi thận

Vi khuẩn có thể tràn vào máu và gây nên một biến chứng sau mổ sỏi thận đặc biệt nghiêm trọng gọi là “nhiễm khuẩn huyết” - một tình trạng đe dọa tính mạng cần cấp cứu ngay.
Vi khuẩn có thể tràn vào máu và gây nên một biến chứng sau mổ sỏi thận đặc biệt nghiêm trọng gọi là “nhiễm khuẩn huyết” – một tình trạng đe dọa tính mạng cần cấp cứu ngay.

Nhóm biến chứng nghiêm trọng cần cấp cứu

  • Nhiễm khuẩn huyết: Trong quá trình tán sỏi, việc phá vỡ cấu trúc sỏi có thể giải phóng vi khuẩn và nội độc tố vào máu. Đây là tình trạng đặc biệt nguy hiểm, nó sẽ kích hoạt phản ứng viêm toàn thân dẫn đến nhiễm khuẩn huyết và sốc nội độc tố (Endotoxic shock) đe dọa trực tiếp đến tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời.
  • Sốc nhiễm khuẩn: Đây là giai đoạn nặng của nhiễm khuẩn huyết khi huyết áp tụt mạnh và cơ quan bị thiếu máu. Điều này xảy ra khi vi khuẩn hoặc độc tố lan tràn mà cơ thể không kiểm soát được phản ứng viêm toàn thân.
  • Tụ máu lớn quanh thận: Biến chứng này chủ yếu xảy ra nếu điều trị bằng phương pháp Tán sỏi qua da (PCNL) hoặc mổ mở, khi mạch máu lớn trong thận bị tổn thương trong quá trình chọc thận hoặc nong đường dẫn để phá sỏi. Người bệnh có thể bị đau dữ dội và tụt huyết áp.
  • Chảy máu nặng: Tình trạng này xảy ra khi tổn thương mạch máu lớn trong thận hoặc đường chọc.
  • Tổn thương niệu quản hoặc bể thận: Lớp niêm mạc có thể bị tổn thương nếu ống soi được đưa vào với áp lực cao, hoặc laser tán sỏi chiếu lệch viên sỏi. Kết quả là làm rách hoặc thủng mô niệu quản và thận.
  • Rò động – tĩnh mạch thận: Đây là sự hình thành mối thông bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch trong thận. Điều này hiếm gặp nhưng có thể xảy ra nếu kim hoặc dây nong xuyên qua cả hai mạch máu trong lúc tán sỏi.
  • Áp xe quanh thận hoặc Viêm thận bể thận cấp: Đây là tình trạng mủ tích tụ trong thận do nhiễm trùng nặng kết hợp với tắc nghẽn đường tiểu. Khi sỏi hoặc máu đông gây tắc sau mổ thì vi khuẩn có điều kiện để phát triển mạnh tạo ổ mủ.
  • Suy thận cấp: Người bệnh bị suy giảm chức năng thận đột ngột sau phẫu thuật. Nguyên nhân thường do mất máu, nhiễm trùng nặng hoặc giảm tưới máu thận kéo dài trong và sau mổ.

Các biến chứng dù nhẹ cũng cần chú ý theo dõi trong thời gian dài. Nếu sốt >38.5 độ, rét run hoặc xảy ra tình trạng máu chảy đỏ tươi không đông thì cần phải ĐI CẤP CỨU 115 NGAY, dù vẫn chưa đến thời điểm hẹn tái khám với bác sĩ.

Xem thêm