Theo báo cáo từ Hội nghị tiết niệu Đông Nam Á, số người mắc bệnh sỏi thận tại Việt Nam chiếm khoảng 0.8 – 4.8% tổng dân số cả nước. Các chuyên gia cho biết đây là một tỷ lệ tương đối đáng quan ngại, đặc biệt là ở những người có thói quen uống ít nước hoặc thường xuyên ăn đồ ăn mặn, thức ăn nhanh.

Lưu ý: Thông tin y khoa trong bài viết chỉ mang tính tham khảo và không thay thế cho chẩn đoán, tư vấn, điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Mọi quyết định áp dụng thông tin y khoa trong bài viết cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá dựa trên nhu cầu và tình trạng sức khỏe cụ thể trước khi thực hiện.

Bệnh sỏi thận là gì?

Sỏi thận là một bệnh lý đường tiết niệu, xảy ra khi các chất khoáng và muối trong nước tiểu kết tinh lại tạo thành những viên sỏi cứng trong thận.

Ban đầu, sỏi được tạo thành thường rất nhỏ và có thể được cơ thể đào thải tự nhiên qua đường nước tiểu. Tuy nhiên, khi sự kết tinh và tích tụ diễn ra liên tục thì sỏi dần lớn hơn. Chúng sẽ bị kẹt lại trong niệu quản trong quá trình di chuyển ra khỏi thận, từ đó làm tắc nghẽn dòng tiểu và gây nên các triệu chứng đau khó chịu.

Sỏi thận nằm ở đâu?

Sỏi thận có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong đường tiết niệu nhưng được hình thành ban đầu trong quả thận. Nếu viên sỏi di chuyển ra ngoài thận, nó sẽ theo đường niệu quản và gọi là sỏi niệu quản, tuy nhiên nguồn gốc của sỏi niệu quản vẫn là từ thận.

Tùy theo sỏi được hình thành ở quả thận bên trái hoặc bên phải sẽ được gọi theo bên thận tương ứng.

Ví dụ như sỏi thận trái được tạo ra trong quả thận bên trái và chỉ di chuyển theo niệu quản trái xuống bàng quang. Ngược lại thì sỏi thận phải được tạo ra trong quả thận bên phải và chỉ di chuyển theo niệu quản phải xuống bàng quang.

Một viên sỏi thận trái không thể “chuyển sang bên phải” do hệ tiết niệu hai bên hoàn toàn độc lập và không thông nhau. Vậy nên triệu chứng cũng xuất hiện ở vùng hông lưng tương ứng giúp phân biệt vị trí sỏi.

Quá trình di chuyển của sỏi thận bắt đầu từ thận → niệu quản → bàng quang, và sỏi thận trái hay sỏi thận phải chỉ có ở một bên hệ tiết niệu tương ứng.
Quá trình di chuyển của sỏi thận bắt đầu từ thận → niệu quản → bàng quang, và sỏi thận trái hay sỏi thận phải chỉ có ở một bên hệ tiết niệu tương ứng.

Nguyên nhân sỏi thận là gì?

Nguyên nhân gây sỏi thận là do sự mất cân bằng giữa các chất tạo sỏi, chất ức chế kết tinh thành sỏi trong nước tiểu và độ pH của nước tiểu. Khi nước tiểu quá cô đặc do thiếu nước hoặc có nồng độ chất tạo sỏi cao sẽ kết tinh thành tinh thể. Qua thời gian thì tinh thể hình thành nhiều hơn, chúng đồng thời tích tụ với nhau và tiếp tục phát triển thành viên sỏi thận cứng.

Trên thực tế, sự mất cân bằng các chất trong nước tiểu phụ thuộc nhiều vào thói quen sống, môi trường và yếu tố sinh học của mỗi người.

  • Tình trạng mất nước của cơ thể: có thể do uống ít nước, thói quen sinh hoạt gây mất nước qua mồ hôi, sốt cao, nôn mửa, tiêu chảy, sử dụng thuốc lợi tiểu nhịn tiểu kéo dài…
  • Chế độ ăn thiếu cân bằng: nhiều oxalate, muối, protein động vật, hoặc ít citrate.
  • Bệnh lý nền: tăng canxi niệu, tăng axit uric (gout), rối loạn chuyển hóa purin.
  • Bệnh lý di truyền: cystin niệu, tăng oxalate niệu nguyên phát, bệnh Dent, toan hóa ống thận xa, hội chứng Bartter.
  • Cấu trúc thận bất thường: thận móng ngựa, niệu quản đôi, hẹp chỗ nối bể thận – niệu quản, trào ngược bàng quang – niệu quản, thận đa nang, nang thận lớn…

Xem thêm: Đau sỏi thận

Một số ca bệnh đã được xác định nguyên nhân dẫn đến sỏi thận có liên quan đến yếu tố di truyền như bệnh Dent.
Một số ca bệnh đã được xác định nguyên nhân dẫn đến sỏi thận có liên quan đến yếu tố di truyền như bệnh Dent.

Phân loại các loại sỏi thận

Sỏi thận được phân loại theo thành phần hóa học thành 5 loại chính: sỏi canxi oxalate, canxi phosphat, axit uric, cystine và struvite. Mỗi loại có cơ chế hình thành và yếu tố nguy cơ gây sỏi riêng biệt.

  • Sỏi canxi oxalat: Đây là loại phổ biến chiếm khoảng 80% ca bệnh, chủ yếu là do tăng canxi, oxalat và giảm citrate trong nước tiểu. Sỏi này có hai dạng là COM và COD:
    • Monohydrate (COM): cứng, màu nâu đậm, bề mặt thô ráp, rất khó tán vỡ.
    • Dihydrate (COD): mềm hơn, màu nhạt, dạng hình tháp hoặc ngôi sao.
  • Sỏi canxi phosphat: Đặc điểm nhận dạng sỏi này là màu trắng đục hoặc xám, dạng khối không đều, cứng vừa. Đây là phổ biến ở những bệnh nhân có rối loạn ống thận, xảy ra chủ yếu do tăng canxi, phosphat niệu và nước tiểu giảm tính axit hóa (độ pH > 6.8), thường đi kèm với sỏi canxi oxalat.
  • Sỏi axit uric: Loại sỏi này có đặc điểm màu vàng cam/nâu đỏ với vẻ ngoài có thể nhẵn hoặc góc cạnh, phổ biến ở những người bị gout, đái tháo đường type 2, béo phì, hoặc hội chứng chuyển hóa. Nguyên nhân chính là do tăng axit uric nhưng lại ít citrate trong nước tiểu, đồng thời nước tiểu có pH < 5.5 tạo điều kiện cho axit uric kết tinh.
  • Sỏi struvite: Hình dạng sỏi thận là dạng san hô, có màu trắng hoặc vàng nhạt, mềm, dễ vỡ với đặc điểm phát triển rất nhanh có thể chiếm toàn bộ thận. Nguyên nhân gây ra sỏi thận chủ yếu là do sự tác động của nhiễm trùng đường tiết niệu kéo dài.
  • Sỏi cystine: Đây là loại sỏi hiếm nhất (chiếm khoảng 1% tổng số ca bệnh) và thường gặp ở những người bệnh cystin niệu. Bệnh sẽ tăng đào thải cystin vào nước tiểu, gây kết tinh khi nước tiểu cơ đặc và độ pH thấp, tạo thành các viên sỏi màu vàng chanh nhạt, bề mặt nhẵn, cứng với hình lục giác đặc trưng.
Hình ảnh sỏi thận cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các loại sỏi.
Hình ảnh sỏi thận cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các loại sỏi.

Dấu hiệu sỏi thận

Triệu chứng sỏi thận rất đa dạng và thay đổi từ mờ nhạt đến rõ rệt, có thể diễn ra nhanh chóng nhưng cũng chậm rãi, do đó cần được nhận biết sớm để tránh biến chứng nguy hiểm.

Dấu hiệu sỏi thận nhẹ

Đây là nhóm dấu hiệu bị sỏi thận cho thấy tình trạng còn nhẹ, sỏi kích thước nhỏ và chưa gây tắc nghẽn rõ rệt. Vì các biểu hiện tương đối mờ nhạt nên dễ bị bỏ qua do nhầm lẫn với các vấn đề sức khỏe thông thường.

  • Đau mơ hồ một bên lưng dưới: Cơn đau âm ỉ, không lan rộng và không rõ nguyên nhân. Đau không dữ dội và không liên quan đến vận động hay thay đổi tư thế.
  • Tiểu buốt, tiểu rắt nhẹ: Cảm giác buốt nhẹ, tiểu nhiều lần, nhưng không có sốt hay tiểu ra máu rõ ràng.
  • Nước tiểu đục hoặc có cặn trắng: Cho thấy sỏi nhỏ bong ra các mảnh tinh thể và được đào thải ra ngoài theo dòng nước tiểu, khiến nước tiểu đổi màu và có cặn.
  • Cảm giác tức vùng hông hoặc mạn sườn: Tức nặng, âm ỉ, tăng nhẹ khi uống ít nước hoặc cuối ngày. Cảm giác căng tức này không liên tục và dễ bị nhầm với đau cơ lưng.

Dấu hiệu sỏi thận nặng

Đây là nhóm triệu chứng sỏi thận cho thấy sỏi lớn, đã di chuyển và gây tắc nghẽn trong đường tiết niệu. Các biểu hiện bệnh rất rầm rộ, đặc trưng và rõ ràng, cảnh báo cần phải can thiệp y tế sớm nhất có thể.

  • Cơn đau quặn thận dữ dội: Đau đột ngột, rất dữ dội ở vùng hông lưng một bên, thường lan xuống bụng dưới và bẹn cùng bên. Cơn đau thay đổi theo từng đợt, và không giảm khi thay đổi tư thế hay khi dùng thuốc giảm đau thông thường.
  • Tiểu ra máu: Nước tiểu đổi màu đỏ, hồng đậm và có thể nhìn rõ là máu trong nước tiểu.
  • Nước tiểu có mủ, mùi hôi: Nước tiểu đổi màu đục trắng, có mùi hôi nặng, có thể kèm theo tiểu buốt và cảm giác nóng rát.
  • Giảm lượng nước tiểu: Nước tiểu thải ra rất ít hoặc không có nước tiểu.
  • Sốt cao, ớn lạnh: Đây là dấu hiệu cần cấp cứu ngay, do sỏi làm tắc nghẽn dẫn đến sốt cao (≥ 38.5°C), kèm ớn lạnh và rét run.

Xem thêm: Cơn đau sỏi thận kéo dài bao lâu?

Đau quặn thận là dấu hiệu sỏi thận rất đặc trưng cần được chú ý sớm.
Đau quặn thận là dấu hiệu sỏi thận rất đặc trưng cần được chú ý sớm.

Sỏi thận có nguy hiểm không?

Sỏi thận dù nằm bên trái, bên phải, hay không có triệu chứng ban đầu đều tiềm ẩn nguy cơ sức khỏe nguy hiểm nếu không được phát hiện và xử lý đúng cách. Nguy cơ này thường xảy ra khi sỏi lớn dần, di chuyển hoặc gây tắc nghẽn dòng nước tiểu, dẫn đến các cơn đau dữ dội và tổn thương nghiêm trọng cho đường tiết niệu.

Một số biến chứng nghiêm trọng mà bệnh sỏi thận có thể gây ra như:

  • Ứ nước thận: Nước tiểu bị ứ lại trong thận do sỏi làm tắc nghẽn niệu quản, từ đó làm thận giãn lớn và bị tổn thương. Nếu kéo dài mà không được can thiệp điều trị sẽ dẫn đến mất chức năng thận.
  • Viêm bể thận cấp: Đây là biến chứng cấp cứu do sỏi gây viêm và tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trong thận. Tình trạng này thường gây sốt cao, tiểu mủ với nguy cơ nhiễm trùng huyết rất cao.
  • Suy thận mạn tính: Sỏi tái phát nhiều lần hoặc gây ứ tắc lâu dài khiến chức năng lọc máu của thận suy giảm không hồi phục. Trường hợp nặng có thể cần chạy thận nhân tạo.
  • Tổn thương niệu quản: Sỏi kẹt lâu ngày có thể ăn sâu vào thành niệu quản, từ đó gây sẹo, hẹp hoặc thủng niệu quản nếu không được can thiệp y tế sớm.
  • Nhiễm trùng huyết: Biến chứng này đặc biệt nghiêm trọng có thể đe dọa trực tiếp đến tính mạng. Nhiễm trùng huyết xảy ra khi sỏi làm tắc nghẽn, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào máu dẫn đến sốc nhiễm trùng.

Nhiều nghiên cứu còn cho thấy bệnh nhân bị sỏi tái phát nhiều lần thường cần can thiệp y tế lặp lại, sự can thiệp liên tục này có thể làm tăng nguy cơ biến chứng và gánh nặng điều trị lâu dài.

Vậy nên, dù bệnh sỏi thận không gây nguy hiểm ngay lập tức nhưng những hệ quả mà nó gây ra là không thể xem nhẹ.

Xem thêm: Sỏi thận gây đau lưng

Nhiều viên sỏi có vẻ ngoài sắc nhọn có thể là nguyên nhân làm tổn thương niệu quản, thậm chí là gây thủng niệu quản nếu không được can thiệp điều trị kịp thời.
Nhiều viên sỏi có vẻ ngoài sắc nhọn có thể là nguyên nhân làm tổn thương niệu quản, thậm chí là gây thủng niệu quản nếu không được can thiệp điều trị kịp thời.

Cách chẩn đoán sỏi thận

Chẩn đoán bệnh sỏi thận không chỉ dựa vào triệu chứng mà cần phối hợp nhiều kỹ thuật xét nghiệm hiện đại để xác định vị trí, kích thước, thành phần sỏi và mức độ ảnh hưởng của sỏi đến chức năng thận.

Quy trình y khoa chẩn đoán bệnh sỏi thận thường gồm các bước sau:

  • Khám triệu chứng: Đau lưng một bên, cơn đau quặn thận, tiểu máu, tiểu buốt, sốt nếu có nhiễm trùng…
  • Khai thác bệnh sử: Sỏi tái phát, chế độ ăn uống, ít uống nước, bệnh gout, nhiễm trùng niệu tái phát, bệnh di truyền (như cystinuria).
  • Xét nghiệm nước tiểu và máu:
    • Tổng phân tích nước tiểu: Phát hiện hồng cầu (tiểu máu vi thể), bạch cầu (nhiễm trùng), tinh thể bất thường (oxalat, cystine…).
    • Xét nghiệm pH nước tiểu: Hỗ trợ xác định loại sỏi, nếu pH < 5.5 là sỏi uric, nếu pH > 7.2 là sỏi struvite.
    • Xét nghiệm nước tiểu 24 giờ: Hỗ trợ phân tích chuyên sâu các thành phần liên quan đến sỏi: oxalat, citrate, canxi, uric acid, phosphate, natri, pH, thể tích nước tiểu. Xét nghiệm giúp đánh giá các tình trạng rối loạn chuyển hóa có thể gây sỏi.
    • Cấy nước tiểu: Được thực trong các trường hợp bị sỏi có biểu hiện sốt để tìm vi khuẩn gây nhiễm trùng tiết niệu.
    • Xét nghiệm máu (ure, creatinine, axit uric, canxi máu): Đánh giá chức năng thận, phát hiện các yếu tố nguy cơ tạo sỏi như tăng axit uric máu hoặc tăng canxi máu.
  • Chẩn đoán hình ảnh (bước then chốt trong quy trình):
    • Siêu âm thận: Siêu âm hữu ích trong việc phát hiện các loại sỏi có kích thước ≥ 5mm và tình trạng ứ nước thận.
    • Chụp X-quang hệ tiết niệu: Giúp phát hiện sỏi canxi oxalat và sỏi canxi phosphat.
    • Chụp CT không cản quan: Đây là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh sỏi thận. Kỹ thuật này có thể phát hiện mọi loại sỏi và phù hợp với hầu hết các ca bệnh.
    • Chụp MRI hệ tiết niệu: Chủ yếu dùng để đánh giá thận ở những ca bệnh không thể chụp CT.
  • Phân tích thành phần sỏi: Đây là bước không thể thiếu để xác định đúng loại sỏi nhằm lên chế độ ăn và hướng ngừa bệnh phù hợp. Bác sĩ sẽ sử dụng các phương pháp như Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) hoặc Nhiễu xạ tia X (XRD) để xác định loại sỏi.
Xét nghiệm nước tiểu luôn là bước quan trọng không thể thiếu trong quá trình chẩn đoán bệnh sỏi thận.
Xét nghiệm nước tiểu luôn là bước quan trọng không thể thiếu trong quá trình chẩn đoán bệnh sỏi thận.

Hướng điều trị sỏi thận

Phương pháp điều trị sỏi thận bao gồm ba nhóm chính: điều trị bảo tồn, điều trị can thiệp và phòng ngừa tái phát. Mục tiêu là loại bỏ sỏi, giảm đau, giải quyết tắc nghẽn, ngăn ngừa biến chứng hoặc tái phát.

Điều trị bảo tồn (nội khoa)

  • Uống nhiều nước lọc tối thiểu 2.5 – 3 lít/ngày: Phương pháp này giúp cơ thể tự đào thải sỏi nhỏ ra ngoài, phù hợp với sỏi < 5mm, không gây tắc nghẽn hoặc biến chứng.
  • Thuốc giãn cơ trơn niệu quản: Các nhóm thuốc α1-blocker (như tamsulosin) giúp sỏi tự trôi dễ hơn, có hiệu quả với sỏi kích thước 5 – 10mm nằm ở đoạn xa của niệu quản.
  • Thuốc giảm đau – kháng viêm: NSAIDs là nhóm thuốc được ưu tiên để giảm cơn đau quặn thận (như thuốc diclofenac, ibuprofen). Nếu cơn đau dữ dội hoặc khi NSAIDs không hiệu quả thì bác sĩ có thể kê thuốc Morphin thay thế.
  • Kiềm hóa nước tiểu: Đây là giải pháp phù hợp với sỏi axit uric bằng cách sử dụng thuốc (như potassium citrate, sodium bicarbonate) nâng pH nước tiểu > 6.5 để làm tan sỏi.
  • Điều trị kháng sinh: Thuốc kháng sinh hữu ích trong trường hợp bị sỏi có nhiễm trùng đường tiết niệu.

Điều trị can thiệp (ngoại khoa)

  • Tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL): Bác sĩ dùng sóng xung kích để phá vụn sỏi, sau đó mảnh sỏi sẽ tự đi ra ngoài theo dòng nước tiểu. ESWL hiệu quả cao với sỏi < 2cm ở thận hoặc niệu quản trên, nhưng hiệu quả thấp nếu sỏi cứng hoặc nằm ở thận dưới.
  • Nội soi niệu quản tán sỏi bằng laser (URS): Bác sĩ dùng ống nội soi đưa qua niệu đạo đến niệu quản/thận để xác định vị trí viên sỏi, sau đó dùng laser phá sỏi. URS phù hợp với những ca bệnh có sỏi nằm ở đoạn giữa của niệu quản hoặc khi ESWL không hiệu quả.
  • Nội soi thận qua da (PCNL): Phương pháp này phù hợp với những viên sỏi lớn > 2cm, sỏi struvite hoặc các sỏi do nhiễm trùng gây ra. PCNL được thực hiện bằng cách tạo đường hầm nhỏ từ da vào thận để trực tiếp phá sỏi hoặc lấy ra ngoài.

Điều trị phòng ngừa tái phát

  • Phân tích sỏi bằng Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR): Kỹ thuật này cho phép xác định chính xác thành phần hoá học của sỏi, kể cả khi sỏi có cấu tạo hỗn hợp, với thời gian phân tích nhanh và độ tin cậy cao.
  • Phân tích sỏi bằng X-ray Diffraction (XRD): Phương pháp này giúp phân biệt rõ dạng tinh thể cụ thể của sỏi (như brushite, hydroxyapatite) rất hữu ích trong các trường hợp sỏi phức tạp.
  • Xét nghiệm nước tiểu 24 giờ: Mục đích là xác định các yếu tố nguy cơ gây sỏi và xây dựng hướng điều chỉnh phù hợp, thường để cải thiện tình trạng tăng canxi, tăng axit uric và giảm citrate.
  • Điều chỉnh chế độ ăn: Uống đủ nước, cân bằng canxi, giảm muối, giảm đạm động vật, hạn chế thực phẩm giàu oxalat (như trà đặc, socola…).
Dù là trường hợp sỏi thận nào thì uống đủ và nhiều nước lọc chính là giải pháp hàng đầu để điều trị sỏi thận.
Dù là trường hợp sỏi thận nào thì uống đủ và nhiều nước lọc chính là giải pháp hàng đầu để điều trị sỏi thận.

Hướng dẫn phòng ngừa bị sỏi thận

Theo các hướng dẫn từ Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (AUA) và Châu Âu (EAU), quá trình phòng bệnh sỏi thận cần duy trì lâu dài. Việc này tập trung vào các biện pháp thay đổi lối sống, chế độ ăn uống, ổn định chuyển hóa và cân bằng đặc điểm sinh hóa nước tiểu.

  • Uống ít nhất 2 – 2.5 lít nước lọc mỗi ngày và chia đều lượng nước uống trong ngày, nên tăng lượng nước khi trời nóng hoặc vận động nhiều.
  • Hạn chế ăn mặn, lượng muối ăn chỉ nên khoảng 3 – 4g/ngày.
  • Giảm tiêu thụ thịt đỏ, hải sản, nội tạng.
  • Tránh thực phẩm giàu oxalat như rau bina, trà đặc, chocolate, đậu nành nếu từng bị sỏi canxi oxalat.
  • Giảm đường, đặc biệt là nước ngọt có gas và thực phẩm chế biến sẵn vì đường làm tăng nguy cơ tạo sỏi.
  • Nên bổ sung sữa hoặc sữa tươi ít béo, không đường để bổ sung lượng canxi vừa đủ giúp giảm hấp thu oxalat trong nước tiểu.
  • Tăng cường ăn trái cây như cam, chanh, dứa để bổ sung citrate giúp ức chế tạo sỏi.
  • Ăn nhiều rau và chất xơ tự nhiên để giúp điều hòa hấp thu khoáng chất.
  • Tập thể dục đều đặn 30 phút/ngày để duy trì cân nặng và ổn định chuyển hóa.
  • Hạn chế ngồi lâu, làm việc một chỗ nhiều giờ liền vì dễ làm tăng nguy cơ tạo sỏi.
  • Kiểm soát cân nặng vì béo phì liên quan đến rối loạn chuyển hóa gây sỏi.
  • Tránh hút thuốc lá và rượu bia quá mức, vì chúng khiến cơ thể bị mất nước và rối loạn đào thải độc tố.

Một số câu hỏi thường gặp về bệnh sỏi thận

1. Dấu hiệu sỏi thận sắp ra là gì?

Đây là những dấu hiệu cho thấy sỏi di chuyển từ thận xuống niệu quản và sắp được đào thải qua đường tiểu: tiểu rắt, tiểu buốt, có cảm giác “mót tiểu không hết” do sỏi chạm vào niệu đạo, hoặc có thể bị đau quặn từng cơn ở vùng hông lưng lan xuống bẹn.

Một số người bị sỏi thận có thể thấy nước tiểu đục, có lẫn máu nhẹ, hoặc cảm nhận một luồng đau kèm cảm giác dễ chịu bất thường ngay trước khi sỏi được đẩy ra.

2. Bị sỏi thận có đi tiểu nhiều không?

Sỏi thận không trực tiếp gây đi tiểu nhiều, nhưng có thể làm thay đổi thói quen tiểu tiện khi sỏi di chuyển xuống niệu quản hoặc bàng quang. Nếu viên sỏi gây kích thích bàng quang hoặc rơi xuống gần cổ bàng quang có thể gây mót tiểu liên tục hoặc tiểu lắt nhắt dù lượng nước tiểu ít.

Với những người bị sỏi thận cố gắng uống nước nhiều để đào thải sỏi nhỏ thì có thể đi tiểu nhiều hơn vì lượng nước tiểu tạo ra nhiều hơn bình thường.

3. Bị sỏi thận đi tiểu buốt có đáng lo không?

Tiểu buốt, đặc biệt khi đi kèm với tiểu rắt, tiểu máu, tiểu đục là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm do viên sỏi di chuyển gây viêm nhẹ hoặc có thể do nhiễm trùng đường tiểu.

Nếu tiểu buốt đi kèm sốt, đau vùng hông hoặc nước tiểu có mủ thường là dấu hiệu của viêm bể thận cấp, cần được cấp cứu ngay.

Xem thêm