Khạc đờm ra máu đông là tình trạng người bệnh khạc hoặc ho ra đờm có lẫn máu dạng sợi, mảng, cục nhỏ hoặc máu đông. Đây là dấu hiệu không nên chủ quan, vì máu có thể xuất phát từ đường hô hấp như họng, thanh quản, khí quản, phế quản hoặc phổi.

Khạc đờm ra máu đông là gì?

Khạc đờm ra máu đông là tình trạng trong đờm có máu đã đông lại thành cục nhỏ, mảng sẫm màu hoặc lẫn các vệt máu. Máu có thể có màu đỏ tươi, đỏ sẫm, nâu đỏ hoặc màu gỉ sắt, tùy thời gian máu tồn tại trong đường thở và nguyên nhân gây chảy máu. Trong y khoa, tình trạng ho hoặc khạc ra máu từ đường hô hấp được gọi là ho ra máu.

Máu trong đờm có thể xuất hiện dưới nhiều dạng như đờm hồng, đờm lẫn vệt máu đỏ tươi, máu sẫm màu hoặc cục máu đông. Dù lượng máu ít hay nhiều, người bệnh vẫn nên theo dõi kỹ vì đây có thể là dấu hiệu cảnh báo đường hô hấp đang bị kích ứng, viêm nhiễm hoặc tổn thương.

Khạc đờm ra máu đông là tình trạng trong đờm có máu đã đông lại thành cục nhỏ, mảng sẫm màu hoặc lẫn các vệt máu
Khạc đờm ra máu đông là tình trạng trong đờm có máu đã đông lại thành cục nhỏ, mảng sẫm màu hoặc lẫn các vệt máu

Đờm có máu đông có nguy hiểm không?

Đờm có máu đông không phải lúc nào cũng nguy hiểm ngay lập tức. Nếu máu chỉ xuất hiện một lần với lượng rất ít sau cơn ho mạnh, nguyên nhân có thể do niêm mạc họng hoặc đường thở bị trầy xước.

Tuy nhiên, tình trạng này không nên xem nhẹ, đặc biệt nếu khạc ra máu đông nhiều lần, lượng máu tăng dần hoặc đi kèm các triệu chứng như sốt, khó thở, đau ngực, mệt nhiều, sụt cân, đổ mồ hôi đêm hoặc ho kéo dài.

Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào lượng máu, tần suất xuất hiện, triệu chứng đi kèm, tuổi, tiền sử hút thuốc, bệnh phổi, bệnh tim mạch, thuốc đang dùng và bệnh nền của người bệnh.

Nếu triệu chứng tái diễn hoặc có dấu hiệu bất thường, người bệnh nên đi khám sớm để được kiểm tra nguyên nhân.

Nguyên nhân khạc ra máu đông

Khạc ra máu đông có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Một số nguyên nhân tương đối thường gặp và ít nguy hiểm hơn, nhưng cũng có những bệnh lý nghiêm trọng cần xử trí khẩn cấp.

  • Ho nhiều hoặc viêm đường hô hấp: Ho kéo dài, ho mạnh, viêm họng, viêm phế quản hoặc nhiễm trùng hô hấp có thể làm niêm mạc đường thở bị kích ứng, trầy xước và chảy máu nhẹ. Khi máu lẫn với đờm, người bệnh có thể thấy vệt máu hoặc cục máu nhỏ.
  • Viêm phổi: Viêm phổi có thể gây ho, sốt, đau ngực, khó thở và đờm lẫn máu. Một số trường hợp đờm có màu gỉ sắt hoặc lẫn máu đông, đặc biệt khi tình trạng viêm làm tổn thương mạch máu nhỏ trong phổi.
  • Lao phổi: Lao phổi là một nguyên nhân quan trọng cần nghĩ đến nếu người bệnh ho kéo dài, khạc đờm ra máu, sốt về chiều, đổ mồ hôi đêm, sụt cân, mệt mỏi hoặc có tiếp xúc với người mắc lao.
  • Giãn phế quản: Giãn phế quản là tình trạng đường thở bị giãn bất thường, dễ ứ đọng đờm và nhiễm trùng tái diễn. Người bệnh có thể ho khạc đờm kéo dài, đờm nhiều, hôi, và đôi khi ho ra máu hoặc máu đông.
  • Thuyên tắc phổi: Cục máu đông gây tắc mạch máu ở phổi có thể gây đau ngực, khó thở đột ngột, tim đập nhanh, ho ra máu hoặc ngất. Đây là tình trạng cần cấp cứu.
  • Ung thư phổi: Ở người lớn tuổi, người hút thuốc lá lâu năm hoặc có ho kéo dài, sụt cân, đau ngực, khàn tiếng, ho ra máu tái diễn, bác sĩ có thể cần kiểm tra để loại trừ ung thư phổi.
  • Bệnh phổi mạn tính: COPD, viêm phế quản mạn, xơ nang hoặc các bệnh phổi mạn tính khác có thể làm đường thở dễ viêm, dễ chảy máu hơn khi ho hoặc nhiễm trùng.
  • Chấn thương hoặc thủ thuật đường hô hấp: Va chạm vùng ngực, nội soi phế quản, đặt nội khí quản hoặc một số thủ thuật y tế có thể gây chảy máu đường hô hấp trong một số trường hợp.
  • Rối loạn đông máu hoặc thuốc chống đông: Người đang dùng thuốc chống đông, thuốc kháng kết tập tiểu cầu hoặc có bệnh lý rối loạn đông máu có thể dễ chảy máu hơn, kể cả chảy máu đường hô hấp.
Khạc ra máu đông có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau
Khạc ra máu đông có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như ho nhiều hoặc viêm đường hô hấp, viêm phổi,…

Phân biệt khạc đờm ra máu với nôn ra máu hoặc chảy máu mũi họng

Không phải lúc nào máu xuất hiện trong miệng cũng đến từ phổi. Người bệnh cần phân biệt tương đối nguồn máu để mô tả chính xác với bác sĩ.

  • Máu từ đường hô hấp: Thường xuất hiện sau ho hoặc khạc, có thể lẫn với đờm, bọt khí, màu đỏ tươi, hồng hoặc gỉ sắt. Người bệnh có thể kèm ho, đau ngực, khó thở, sốt hoặc khò khè.
  • Máu từ mũi, xoang, họng hoặc miệng: Có thể do chảy máu cam, viêm xoang, viêm họng, viêm nướu, chấn thương răng miệng. Máu có thể chảy xuống họng rồi được khạc ra, khiến người bệnh nhầm là ho ra máu.
  • Máu từ đường tiêu hóa: Nôn ra máu thường đi kèm buồn nôn, nôn, đau thượng vị hoặc phân đen. Máu có thể đỏ tươi hoặc sẫm màu như bã cà phê. Đây là tình trạng cần được đánh giá y tế.

Khi nào cần đi khám ngay?

Người bệnh nên đi khám sớm nếu khạc đờm ra máu đông lặp lại, máu xuất hiện nhiều hơn, ho kéo dài hoặc có bệnh nền hô hấp. Việc thăm khám giúp xác định máu đến từ đâu và có cần điều trị khẩn cấp hay không.

Cần đi cấp cứu ngay nếu có một trong các dấu hiệu sau:

  • Khạc hoặc ho ra nhiều máu: Máu ra nhiều, thành cục lớn, chảy liên tục hoặc làm người bệnh khó thở, choáng váng.
  • Khó thở hoặc đau ngực: Đây có thể là dấu hiệu của bệnh lý phổi, tim mạch hoặc thuyên tắc phổi.
  • Sốt cao, rét run, mệt lả: Có thể gợi ý nhiễm trùng hô hấp nặng hoặc viêm phổi.
  • Sụt cân, ho kéo dài, đổ mồ hôi đêm: Cần kiểm tra các bệnh lý như lao phổi hoặc bệnh phổi mạn tính.
  • Ngất, tím tái, vã mồ hôi, tim đập nhanh: Đây là các dấu hiệu nguy hiểm cần xử trí cấp cứu.
  • Đang dùng thuốc chống đông hoặc có rối loạn đông máu: Người bệnh có nguy cơ chảy máu nặng hơn và cần được bác sĩ đánh giá sớm.

Cách chẩn đoán nguyên nhân khạc ra máu đông

Để tìm nguyên nhân khạc ra máu đông, bác sĩ sẽ hỏi kỹ về lượng máu, màu sắc máu, tần suất, triệu chứng đi kèm, tiền sử hút thuốc, bệnh phổi, bệnh tim mạch, thuốc đang dùng và nguy cơ lao hoặc huyết khối.

Một số kiểm tra có thể được chỉ định gồm:

  • Khám lâm sàng: Bác sĩ kiểm tra họng, mũi, miệng, nghe phổi, đánh giá nhịp thở, huyết áp, mạch và dấu hiệu thiếu oxy.
  • X-quang ngực: Giúp phát hiện một số bất thường ở phổi như viêm phổi, tổn thương lao, khối u hoặc tổn thương khác.
  • CT ngực: Có thể được chỉ định nếu cần đánh giá chi tiết phổi, phế quản, mạch máu phổi hoặc khi X-quang chưa giải thích được triệu chứng.
  • Xét nghiệm máu: Công thức máu, chức năng đông máu, chức năng gan thận hoặc dấu hiệu viêm có thể giúp đánh giá thiếu máu, nhiễm trùng hoặc rối loạn đông máu.
  • Xét nghiệm đờm: Có thể được thực hiện nếu nghi ngờ nhiễm trùng, lao phổi hoặc cần tìm tác nhân gây bệnh.
  • Nội soi phế quản: Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể nội soi để quan sát đường thở, tìm vị trí chảy máu, lấy mẫu xét nghiệm hoặc hỗ trợ xử trí chảy máu.
Để tìm nguyên nhân khạc ra máu đông, bác sĩ sẽ hỏi kỹ về lượng máu, màu sắc máu, tần suất, triệu chứng đi kèm, tiền sử hút thuốc,...
Để tìm nguyên nhân khạc ra máu đông, bác sĩ sẽ hỏi kỹ về lượng máu, màu sắc máu, tần suất, triệu chứng đi kèm, tiền sử hút thuốc,…

Khạc đờm ra máu đông điều trị như thế nào?

Điều trị khạc đờm ra máu đông phụ thuộc vào nguyên nhân. Người bệnh không nên tự mua thuốc cầm máu, kháng sinh, thuốc chống đông hoặc thuốc ho mạnh khi chưa được bác sĩ đánh giá.

  • Nếu do nhiễm trùng hô hấp: Bác sĩ có thể chỉ định thuốc phù hợp tùy nguyên nhân là virus, vi khuẩn, lao hoặc tác nhân khác. Không phải mọi trường hợp ho ra máu đều cần kháng sinh.
  • Nếu do lao phổi: Người bệnh cần điều trị theo phác đồ lao và tuân thủ đủ thời gian. Tự ý ngưng thuốc có thể làm bệnh kéo dài và tăng nguy cơ kháng thuốc.
  • Nếu do giãn phế quản hoặc bệnh phổi mạn: Điều trị có thể bao gồm kiểm soát nhiễm trùng, làm sạch đờm, thuốc hô hấp, phục hồi chức năng hô hấp và theo dõi định kỳ.
  • Nếu do thuyên tắc phổi: Đây là tình trạng cần điều trị y tế khẩn cấp. Bác sĩ có thể cân nhắc thuốc chống đông, thuốc tiêu sợi huyết hoặc can thiệp tùy mức độ nặng.
  • Nếu do khối u hoặc tổn thương phổi nghiêm trọng: Người bệnh cần được chuyên khoa hô hấp hoặc ung bướu đánh giá để có kế hoạch điều trị phù hợp.
  • Nếu do thuốc chống đông: Bác sĩ sẽ đánh giá mức độ chảy máu, xét nghiệm đông máu và điều chỉnh thuốc khi cần. Người bệnh không nên tự ngưng thuốc chống đông nếu chưa được hướng dẫn.

Có thể phòng ngừa khạc đờm ra máu đông không?

Không phải mọi nguyên nhân gây khạc đờm ra máu đông đều phòng ngừa được. Tuy nhiên, một số biện pháp có thể giúp giảm nguy cơ bệnh hô hấp và biến chứng liên quan:

  • Không hút thuốc lá: Hút thuốc làm tổn thương đường thở, tăng nguy cơ viêm phế quản mạn, COPD, ung thư phổi và ho ra máu.
  • Điều trị dứt điểm nhiễm trùng hô hấp: Khi ho kéo dài, sốt, đau ngực hoặc đờm bất thường, nên đi khám để được điều trị đúng nguyên nhân.
  • Tầm soát và điều trị lao khi có nguy cơ: Người ho kéo dài, sốt về chiều, sụt cân hoặc tiếp xúc với người mắc lao nên kiểm tra sớm.
  • Tuân thủ thuốc điều trị bệnh nền: Người có bệnh tim phổi, dùng thuốc chống đông hoặc có rối loạn đông máu cần tái khám đúng lịch.
  • Tránh tự dùng thuốc: Tự dùng thuốc chống đông, aspirin, kháng viêm hoặc thuốc cầm máu không đúng có thể làm tăng nguy cơ biến chứng.