Sinh thiết phổi là xét nghiệm y khoa quan trọng giúp xác định các tổn thương ở phổi có phải là ung thư, nhiễm trùng hay là bệnh lý phổi mô kẽ hay không. Nhờ kết quả sinh thiết phổi mà bác sĩ có thể dễ dàng chẩn đoán chính xác và lên hướng điều trị phù hợp. Đặc biệt là trong trường hợp ung thư phổi có thể được phát hiện qua sinh thiết u phổi.

Sinh thiết phổi là gì?

Sinh thiết phổi là thủ thuật xét nghiệm y khoa lấy mẫu mô từ phổi để phân tích dưới kính hiển vi. Mục đích của sinh thiết là xác định chính xác bản chất mô học của tổn thương khi không thể chẩn đoán bằng các phương pháp không xâm lấn.

Nhờ sinh thiết mà có thể phân biệt chính xác tổn thương phổi đó có phải là ung thư, nhiễm trùng, phản ứng viêm hay một bệnh lý phổi mô kẽ. Qua đó bác sĩ có thể lên phác đồ điều trị phù hợp với từng ca bệnh cụ thể.

Đặc biệt, sinh thiết u phổi là một ứng dụng quan trọng của sinh thiết phổi, giúp xác định bạn chất của khối u là lành tính hay ác tính. Nếu xác định là ung thư thì sinh thiết giúp chỉ ra chính xác là loại ung thư nào, ví dụ như ung thư biểu mô tuyến, ung thư tế bào vảy, ung thư tế bào nhỏ.

Vai trò của sinh thiết cũng không dừng lạiviệc xác địnhlành tính hay ác tính”. Kỹ thuật này hiện một bước bắt buộc quan trọng nhất để lấy đủ mẫu cho các xét nghiệm sinh học phân tử. Các xét nghiệm này tìm kiếm các đột biến gen (như EGFR, ALK, KRAS) dấu ấn miễn dịch (như PD-L1), sở để bác lựa chọn các liệu pháp nhắm trúng đích hoặc liệu pháp miễn dịch tiên tiến, mang lại hiệu quả điều trị cao. 

Sinh thiết phổi dưới hướng dẫn CT là một trong những kỹ thuật sinh thiết phổ biến nhất trong chẩn đoán ung thư phổi.
Sinh thiết phổi dưới hướng dẫn CT là một trong những kỹ thuật sinh thiết phổ biến nhất trong chẩn đoán ung thư phổi.

Các phương pháp lấy sinh thiết phổi

Có 5 phương pháp chính được sử dụng để lấy sinh thiết phổi, bao gồm cả trường hợp sinh thiết u phổi. Mỗi phương pháp được lựa chọn dựa trên vị trí tổn thương, độ chính xác cần thiết, mức độ xâm lấn chấp nhận được và tình trạng sức khỏe người bệnh.

  • Sinh thiết kim xuyên thành ngực (TTNB): Đây là kỹ thuật sử dụng một cây kim (kim nhỏ FNA hoặc kim lõi) chọc xuyên qua thành ngực để lấy mẫu u phổi. Để đảm bảo kim đi chính xác vào khối u, bác sĩ sẽ sử dụng các phương tiện hướng dẫn hình ảnh (như chụp CT). Phương pháp này là lựa chọn hàng đầu cho các khối u nằm ở ngoại vi (gần thành ngực) – nơi ống nội soi phế quản không thể vươn tới.
  • Sinh thiết qua nội soi phế quản (TBLB): Đây là phương pháp dùng ống nội soi phế quản để tiếp cận và lấy mô từ các vùng gần đường dẫn khí. TBLB có hiệu quả cao trong chẩn đoán lao, nhiễm trùng, hoặc ung thư trung tâm với mức độ xâm lấn thấp và ít biến chứng. Phương pháp này thường được ưu tiên cho các khối u nằm ở trung tâm (gần các phế quản lớn) hoặc các hạch bạch huyết ở rốn phổi – những vị trí này ống nội soi có thể tiếp cận được.
  • Sinh thiết phẫu thuật qua nội soi lồng ngực (VATS): Đây là kỹ thuật ít xâm lấn qua các vết mổ nhỏ ở ngực, kết hợp dùng camera và dụng cụ chuyên dụng để lấy mẫu mô. VATS phù hợp với tổn thương lan tỏa hoặc khó tiếp cận với độ chính xác cao.
  • Sinh thiết mở: Đây là kỹ thuật phẫu thuật cổ điển mở lồng ngực để lấy mô phổi dưới quan sát trực tiếp, thường chỉ dùng khi các phương pháp khác không hiệu quả.

Xem thêm: Sinh thiết gan

Hình ảnh sinh thiết phổi xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CT của bệnh nhân được hiển thị bên phải, cho thấy kim sinh thiết phổi ở rìa khối u.
Hình ảnh sinh thiết phổi xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CT của bệnh nhân được hiển thị bên phải, cho thấy kim sinh thiết phổi ở rìa khối u.

Xét nghiệm sinh thiết phổi bao lâu có kết quả?

Kết quả sinh thiết phổi thường có sau 3 – 7 ngày nếu mục đích là chẩn đoán các bệnh lý không phải ung thư. Với những trường hợp hình ảnh mô không rõ ràng, cần phải thêm các bước xét nghiệm chuyên sâu thì thời gian trả kết quả có thể kéo dài đến 10 ngày.

Kết quả sinh thiết u phổi khi nghi ngờ ung thư thường có kết quả 7 – 14 ngày cho toàn bộ quá trình làm xét nghiệm phân tích. Trong đó bao gồm nhiều bước gồm nhuộm H&E, nhuộm hóa mô miễn dịch và phân tích đột biến gen. Kết quả từ quy trình này rất quan trọng giúp bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị phù hợp.

Cần lưu ý rằng, thời gian nhận kết quả có thể kéo dài hơn tùy theo cơ sở y tế bạn đăng ký thực hiện sinh thiết.

Xem thêm: Sinh thiết thận

Sinh thiết phổi thường có kết quả sau 3 - 7 ngày, nếu sinh thiết u phổi thì có thể kéo dài đến 2 tuần.
Sinh thiết phổi thường có kết quả sau 3 – 7 ngày, nếu sinh thiết u phổi thì có thể kéo dài đến 2 tuần.

Một số câu hỏi liên quan đến sinh thiết phổi

Sinh thiết phổi có đau không?

Sinh thiết phi th gây cm giác đau nh khi thc hin các k thut sinh thiết ít xâm ln (như sinh thiết kim hoặc nội soi phế quản). Những kỹ thuật này thưng đưc gây ti ch nên ch cm thy khó chu, tc ngc hoc hơi đau ti v trí kim chc. 

Nếu là sinh thiết phẫu thuật thì không gây đau vì đã được gây mê toàn thân. Tuy nhiên, người bệnh có thể đau sau mổ và cần dùng thuốc giảm đau trong vài ngày.

Lấy sinh thiết phổi có nguy hiểm không?

Sinh thiết phổi là thủ thuật an toàn nhưng vẫn có thể gây ra một số rủi ro tùy theo phương pháp và thể trạng người bệnh. Chẳng hạn như có khoảng 15 – 25% trường hợp bị tràn khí màng phổi trong sinh thiết xuyên thành ngực. Một số biến chứng ít gặp khác có thể là chảy máu phổi nhẹ, ho ra máu hoặc nhiễm trùng.

Xem thêm: Sinh thiết dạ dày

Sinh thiết phổi có phải nằm viện không?

Không phải tất cả các trường hợp sinh thiết phổi đều phải nằm viện. Với các kỹ thuật ít xâm lấn thì người bệnh thường được theo dõi vài giờ và có thể về trong ngày nếu không có biến chứng.

Nếu sinh thiết bằng phương pháp phẫu thuật nội soi hoặc mở ngực, người bệnh sẽ phải nằm viện 1 – 3 ngày để theo dõi hồi phục, kiểm soát đau và phòng ngừa biến chứng.

Những trường hợp nào được chỉ định sinh thiết phổi?

Sinh thiết phổi không được tự ý thực hiện mà phải có sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Một số trường hợp có thể được chỉ định sinh thiết phổi bao gồm:

  • Nghi ngờ ung thư phổi.
  • Mắc bệnh lý phổi mô kẽ không rõ nguyên nhân.
  • Tổn thương phổi lan tỏa không điển hình.
  • Nghi ngờ nhiễm trùng sâu không xác định được nguyên nhân.
  • Có khối bất thường ở trung thất hoặc hạch rốn phổi.
  • Theo dõi tái phát ung thư phổi sau điều trị.
  • Nghi ngờ tổn thương viêm phổi do các bệnh hệ thống như bệnh tự miễn, viêm mạch, lupus…

Lời kết

Nhìn chung, sinh thiết phổi là một xét nghiệm quan trọng giúp chẩn đoán nhiều bệnh lý ở phổi, đặc biệt là ung thư phổi. Tuy an toàn nhưng sinh thiết là một xét nghiệm có xâm lấn, do đó cần phải được thực hiện dưới sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Xem thêm: